| Hotline: 0983.970.780

Bỏ tiền kiểm đại trà, rút ngắn thời gian cấp mã số vùng trồng

Thứ Hai 13/07/2026 , 17:12 (GMT+7)

Dự thảo Nghị quyết chuyển trọng tâm quản lý mã số vùng trồng sang hậu kiểm và dữ liệu số, rút ngắn thủ tục nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Thời gian chờ cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là mối quan tâm đặc biệt của địa phương, nhất là khi nông sản đến kỳ thu hoạch. Khi thị trường ngày càng yêu cầu truy xuất nguồn gốc chặt chẽ, mỗi thủ tục kéo dài không chỉ làm tăng chi phí của doanh nghiệp mà còn khiến nông sản bỏ lỡ thời điểm vàng xuất khẩu.

Phương án được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra tại Hội nghị về Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ Quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói chiều 13/7 đặt mục tiêu quản lý bằng dữ liệu, trách nhiệm kê khai của tổ chức, cá nhân và cơ chế hậu kiểm. Dự thảo được xây dựng như một giải pháp trước mắt để tháo gỡ vướng mắc của Nghị định 38/2026/NĐ-CP trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện nghị định này theo trình tự rút gọn.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì Hội nghị chiều 13/7. Ảnh: Bảo Thắng.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì Hội nghị chiều 13/7. Ảnh: Bảo Thắng.

Bỏ cách quản lý 'xin - kiểm - cấp' chuyển sang dữ liệu và hậu kiểm

Trước gần 300 điểm cầu trực tuyến từ địa phương, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt trình bày 2 phương án của dự thảo. Điểm chung là thay vì coi việc cấp mã số vùng trồng là một quy trình tiền kiểm với nhiều thành phần hồ sơ và nhiều khâu xác minh trước khi quyết định cấp hay không cấp, cơ chế mới hướng tới đơn giản hóa tối đa thủ tục, nhưng tăng trách nhiệm quản lý sau khi mã đã được cấp.

Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được rút gọn còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã hay doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã số hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối, nêu rõ lý do.

Trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý còn hai ngày làm việc. So với quy trình hiện hành, thay đổi này không chỉ rút ngắn thời gian mà còn giảm đáng kể chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp. Dự thảo cũng xác định rõ nguyên tắc không phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với thực tế sản xuất.

Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Nền tảng của mô hình mới là dữ liệu số. Cụ thể, toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ. Hệ thống này được kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan theo quy định pháp luật.

Thay vì dựa chủ yếu vào các đợt kiểm tra trước khi cấp mã, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình trạng hoạt động của vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất toàn bộ thông tin trên một nền tảng dữ liệu thống nhất. Dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu đối với những vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Ngoài việc tuân thủ quy định của Việt Nam, các vùng trồng và cơ sở đóng gói còn phải đáp ứng yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện hậu kiểm việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Thời gian xử lý nội dung này không quá 10 ngày làm việc.

"Với mã số phục vụ nội tiêu, thủ tục được rút gọn tối đa. Với xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì nhưng tập trung vào những tiêu chuẩn kỹ thuật mà từng thị trường yêu cầu, thay vì áp dụng quy trình tiền kiểm chung cho mọi trường hợp", ông Đạt nhấn mạnh.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp: 'Nếu mã số có diện tích nhỏ, sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu cạnh tranh'. Ảnh: Bảo Thắng.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp: 'Nếu mã số có diện tích nhỏ, sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu cạnh tranh'. Ảnh: Bảo Thắng.

Cấp nhanh hơn nhưng không hạ chuẩn xuất khẩu

Trước khi thống nhất phương án trình Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt lên bàn 2 cách tiếp cận khác nhau trong việc cấp mã số vùng trồng. Khác biệt lớn nhất nằm ở việc có gắn việc cấp mã với mã định danh đất đai ngay từ đầu hay không.

Ở phương án thứ nhất, mã số vùng trồng được cấp theo vị trí thửa đất và xác định trên cơ sở mã định danh đất đai. Những hộ đã có dữ liệu trên cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia có thể sử dụng ngay để đăng ký cấp mã, trong khi các trường hợp chưa có dữ liệu phải được UBND cấp xã xác nhận và bổ sung thông tin trước khi thực hiện thủ tục.

Tại hội nghị, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh như Lâm Đồng, Gia Lai, Sơn La... cho rằng phương án này khó triển khai ngay trong thực tế. Bởi cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất chưa được chuẩn hóa dữ liệu, phần lớn là đất nông nghiệp. Nếu buộc phải hoàn thiện dữ liệu đất đai (dự kiến trong tháng 10/2026) trước khi cấp mã số vùng trồng, tiến độ giải quyết hồ sơ có nguy cơ bị kéo dài, đi ngược mục tiêu tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu. Trước mắt là vụ sầu riêng tại Tây Nguyên, dự kiến thu hoạch trong 1-2 tháng tới.

Vì vậy, đa số địa phương thống nhất lựa chọn phương án thứ hai. Theo đó, mã số vùng trồng vẫn được cấp theo vị trí thửa đất nhưng chưa bắt buộc phải gắn ngay với mã định danh đất đai. Cơ sở để cấp mã là thông tin kê khai của người dân, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Riêng các vùng trồng đăng ký xuất khẩu phải trải qua tiền kiểm để đánh giá việc đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Về lâu dài, địa phương kiến nghị, mã số vùng trồng sẽ được cấp trên cơ sở dữ liệu định danh đất đai để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong dữ liệu. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhất trí và yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo, để kịp trình Chính phủ ban hành vào 15/7. "Nếu khu đất chưa có trong cơ sở dữ liệu, UBND cấp xã phải xác nhận vị trí và diện tích để làm căn cứ cấp mã. Đây không phải bổ sung thủ tục, mà nhằm bảo đảm mỗi mã số đều gắn với một vị trí sản xuất xác định, hạn chế tình trạng sai lệch thông tin hoặc khó truy xuất sau này", ông cho biết.

Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt trình bày 2 phương án của dự thảo. Ảnh: BT.

Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt trình bày 2 phương án của dự thảo. Ảnh: BT.

Nhấn mạnh mục tiêu của việc đổi mới cơ chế cấp mã số vùng trồng không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn phục vụ quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước lẫn thị trường xuất khẩu, Thứ trưởng chỉ đạo quy định về hậu kiểm phải cụ thể hơn (có biểu mẫu, biên bản, phương thức kiểm tra) để địa phương dễ thực hiện. 

Một điểm được ông đặc biệt lưu ý, là thời hạn 10 ngày đối với hồ sơ đăng ký xuất khẩu. Theo Thứ trưởng, khoảng thời gian này không nhằm kéo dài thủ tục mà để cơ quan chuyên môn có đủ thời gian kiểm tra việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường. Nếu chỉ 1 vùng trồng không đáp ứng tiêu chuẩn nhưng vẫn được gửi sang nước nhập khẩu rồi bị trả lại, ảnh hưởng sẽ không dừng ở doanh nghiệp hay địa phương đó mà tác động đến uy tín của nông sản Việt.

Không dừng ở cấp mã, lãnh đạo Bộ đề nghị địa phương coi đây là dịp xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu mã số vùng trồng trên toàn địa bàn. Ông gợi mở khả năng triển khai một chiến dịch tương tự chiến dịch xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trước đây để hoàn thiện dữ liệu trong thời gian ngắn, tạo nền tảng cho quản lý lâu dài. Cùng với đó, là thúc đẩy liên kết sản xuất, hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác và vùng nguyên liệu đủ lớn.

"Nếu mã số có diện tích nhỏ, sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu cạnh tranh", Thứ trưởng Hiệp chia sẻ và nhấn mạnh, khi hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, địa phương vừa thuận lợi quản lý, vừa tạo đà xây dựng thương hiệu nông sản.

Với thị trường Trung Quốc, định kỳ 3 tháng 1 lần Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tổng hợp và chuyển danh sách mã số đăng ký cấp mới sang phía Bạn. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đánh giá, như vậy là "dài so với thực tế sản xuất". Do đó, Bộ cam kết sẽ đàm phán với phía Trung Quốc để điều chỉnh cơ chế trao đổi thông tin, đồng thời hướng tới mô hình quản lý dựa trên truy xuất nguồn gốc thay vì phụ thuộc vào quy trình phê duyệt kéo dài như hiện nay.

Xem thêm
Vinh danh nhiều tập thể, cá nhân Việt Nam - Lào tại Hội nghị cấp Bộ trưởng 2026

Hội nghị cấp Bộ trưởng năm 2026 giữa Bộ NN-MT Việt Nam và Lào đã vinh danh nhiều tập thể, cá nhân có đóng góp nổi bật cho quan hệ hợp tác song phương.

Bí thư Thái Nguyên đối thoại với nông dân về nông nghiệp xanh

THÁI NGUYÊN Ngày 15/7, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên Trịnh Xuân Trường đối thoại với nông dân về chủ đề phát triển nông nghiệp xanh, đổi mới sáng tạo, và phát triển du lịch nông thôn.

Bình luận mới nhất

Bỏ tiền kiểm đại trà, rút ngắn thời gian cấp mã số vùng trồng
Thời sự 1 ngày trước