Sửa đổi 4 nhóm chính sách Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo
Thứ Ba 14/07/2026 , 09:36 (GMT+7)
Các chính sách mới của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi sẽ tạo hệ sinh thái quản trị biển hiện đại, thống nhất pháp luật, thúc đẩy phát triển.
Sửa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: Để quản trị biển hiện đại
Biển đang mở ra những không gian phát triển mới cho đất nước, từ kinh tế hàng hải, nuôi biển công nghiệp đến năng lượng tái tạo ngoài khơi. Cùng với đó là yêu cầu ngày càng cao về quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.
Tuy nhiên, sau gần 10 năm triển khai, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước và sự thay đổi của hệ thống pháp luật, một số quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Vì vậy, yêu cầu phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, dựa trên khoa học – công nghệ và dữ liệu phù hợp với diễn biến của tình hình mới.
Ngày 8/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 182/NQ-CP thông qua đề xuất xây dựng 4 nhóm chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoàn thiện hồ sơ dự án luật, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy định.
Chính sách 1: Hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển, giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển, bảo đảm phân định rõ trách nhiệm trong quản lý, thực thi, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Chính sách 2: Hoàn thiện quy định về các quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, tài sản gắn liền với khu vực biển, chuyển mục đích sử dụng khu vực biển; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, bảo đảm kết hợp phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển.
Chính sách 3: Hoàn thiện quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, cải thiện, phục hồi môi trường, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển và hải đảo.
Chính sách 4: Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo.
Phỏng vấn PGS. TS. NGUYỄN CHU HỒI
Phó Chủ tịch Thường trực - phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam
“Chúng ta có quy hoạch không gian biển nhưng theo Luật Quy hoạch 2017 thì quy hoạch không gian biển chỉ làm ở cấp Quốc gia, nếu cấp địa phương không làm thì chi tiết hóa, hiện thực hóa ở cấp địa phương mà theo quy định thì tỉnh bây giờ có thẩm quyền thì dùng công cụ gì? Thì vẫn chưa có trong quy định của pháp luật. Muốn tiếp cận liên ngành thì phải lồng ghép, cân nhắc vấn đề của các ngành lợi ích của ngành này với ngành khác trong cùng một vùng biển vẫn chưa rõ. Thứ ba là cấp phép, Luật Môi trường và Luật Tài nguyên môi trường biển hai cái yêu cầu cấp phép khác nhau… Sắp tới tiếp tục phải sửa đổi và luật hóa trở thành một căn cứ rõ ràng”
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ thống 4 chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được tiếp cận theo phương thức quản lý tổng hợp và bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, 4 chính sách này không tách rời mà hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể hệ sinh thái quản trị biển hiện đại, vận hành theo logic xuyên suốt từ khâu xác lập không gian đến thúc đẩy phát triển bền vững. Quản lý chặt chẽ để phát triển bền vững, ưu đãi vượt trội, đột phá để thúc đẩy kinh tế, bảo vệ môi trường để giữ vững lợi ích quốc gia lâu dài trên biển. Đây chính là bước chuyển tư duy quan trọng từ quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, phù hợp với xu thế quốc tế và thực tiễn phát triển của đất nước.
Phỏng vấn Ông NGUYỄN XUÂN LAM
Tổng Thư ký Hiệp hội nuôi biển Việt Nam
“Điểm nghẽn là luật hóa và quy tắc ứng xử, trong đó quy tắc ứng xử rất vướng ví dụ ven bờ, gần bờ và xa bờ, gần bờ có 21 địa phương cấp phép cho người dân nuôi biển, ven bờ và xa bờ thì còn hạn chế rất nhiều, rất ít doanh nghiệp, tổ chức nhận được mặt biển để nuôi. Thứ hai về khoa học công nghệ, về tương lai rất nhiều người hưởng ứng chính sách này để vươn ra biển. 21 tỉnh thành có sẽ phát triển lĩnh vực này nếu được hỗ trợ về vốn, và khoa học công nghệ…
Phỏng vấn Ông NGUYỄN THANH TÙNG
Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam
“Theo tôi thì vẫn còn nhiều điểm nghẽn, nó là từ thể chế, thể chế chưa tạo điều kiện,chưa phân cấp phân quyền đủ để cho địa phương có hành lang pháp lý hoạt động, bên cạnh đó địa phương chưa có đủ nguồn dữ liệu. Một cái nữa là nguồn nhân lực quản lý về biển thời gian trước đây chưa tập trung. Do vậy trong thời gian tới các địa phương cần tập trung hơn vào quản lý biển ví dụ về quy hoạch, điều tra, phân vùng…”
Theo cơ quan soạn thảo, dự thảo luật dự kiến được trình Quốc hội vào tháng 10/2026. Theo yêu cầu của Chính phủ, từ nay đến khi trình ra Quốc hội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo đề xuất; chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các thành viên Chính phủ, hoàn thiện các chính sách và tổ chức soạn thảo dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) theo đúng quy định, bảo đảm chất lượng, tiến độ và thời hạn trình cấp có thẩm quyền xem xét.