Một thời vàng son
Những ngày cuối năm, con đường nhỏ dẫn vào làng Hồng Đô, xã Thiệu Trung (Thanh Hóa) dường như chậm lại. Không còn cảnh tấp nập khung cửi nối nhau chạy thâu đêm như thuở trước, nhưng trong vài mái nhà thấp thoáng khói than, nghề ươm tơ vẫn lặng lẽ tồn tại, bền bỉ níu giữ một thời vàng son.
Theo ông Lê Văn Trường, nghề ươm tơ ở Hồng Đô có từ lâu đời, trở thành kế sinh nhai của hàng trăm hộ dân trong làng. Ảnh: Trung Quân.
Bước vào ngôi nhà của vợ chồng ông Lê Văn Trường, mùi hơi nước nóng hòa quyện mùi kén tằm ngai ngái. Chiếc nồi ươm tơ đã sẫm màu thời gian đặt giữa gian bếp, nước trong nồi luôn được giữ ở 70 - 80 độ C.
Cẩn thận nhấc từng mẻ kén, ông Trường cười hiền nói: “Nước phải đủ nóng thì tơ mới nhả đều, nóng quá thì hỏng, nguội quá thì không ra sợi. Một người làm cả ngày khỏe lắm cũng chỉ quay được chừng 30kg kén”. Bằng các thao tác thuần thục, thoáng chốc những sợi tơ mảnh như sương, óng ánh dưới ánh đèn được ông Trường kéo ra từ những chiếc kén bé nhỏ.
Ông Trường chia sẻ, nghề ươm tơ thủ công truyền thống tại làng đã có hàng trăm năm. Người dân trong làng không rõ nghề ươm tơ, dệt nhiễu được truyền từ đâu và tự bao giờ, chỉ biết nong tằm, khung quay đã trở thành người bạn thân thiết của biết bao thế hệ và cứ thế cha truyền con nối cho đến tận ngày nay.
Hai vợ chồng ông gắn bó với nghề ươm tơ đã hơn 30 năm nên những biến động, thăng trầm của nghề tại làng đều được chứng kiến. Trong ký ức của ông, những năm 2000, cả làng Hồng Đô nhộn nhịp trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ. Vùng bãi bồi hai bên bờ sông Chu đoạn chảy qua làng xanh ngút những bãi dâu. Làng có hàng trăm khung quay tơ, hàng nghìn lao động sống khỏe bằng nghề. Tiếng thoi đưa lách cách vang suốt ngày đêm.
Người làng khi ấy từ các cụ cao niên đến trẻ nhỏ đều thuộc lòng câu nói “Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”. Để nuôi được những nong tằm phát triển tốt, gần như người nuôi không có lúc ngơi nghỉ. Từ trồng dâu, hái lá dâu, cho tằm ăn, mắc màn cho tằm ăn, tằm ngủ... đều phải thực hiện cẩn thận, trau chuốt.
Tơ Hồng Đô có chất rất riêng nên được khách hàng cả trong và ngoài nước ưa chuộng. Ảnh: Trung Quân.
Khi con tằm chín thì quây tơ làm kén. Người nuôi sẽ lựa những kén đẹp cất vào chỗ kín mát, để đúng ngày thì ngài sẽ cắn thủng một đầu tổ chui ra. Ngài đực và ngài cái sẽ cặp đôi trên những tờ giấy phẳng phiu, rồi con cái đẻ trứng bết ngay trên trang giấy ấy. Trứng tằm là những hạt trắng xám li ti được để vào nơi mát mẻ, kín đáo. Mấy ngày sau, trứng tằm sẽ chuyển màu từ trắng đục sang đen, rồi nở ra tằm con. Những kén không được lựa chọn làm giống sẽ đem luộc chín rồi kéo tơ. Sau khi kéo kén, những con nhộng tằm được thu lượm, chế biến thành những món ăn bổ dưỡng…
Ai cũng thấm thía những nhọc nhằn, cơ cực của nghề trồng dâu nuôi tằm nhưng chẳng ai mảy may than thở, nét rạng ngời, tươi vui luôn hiện hữu trên gương mặt mỗi người. Người lớn quen tay với nong kén, guồng quay, trẻ con lớn lên trong tiếng nấu tơ, quay sợi. Cứ thế, nghề được truyền từ đời này sang đời khác, thậm chí để giữ nghề, con gái trong làng ít khi lấy chồng xa, sợ “lộ bí quyết”. Cũng nhờ những điểm đặc biệt ấy nên tơ Hồng Đô có một chất rất riêng, không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn theo chân thương lái sang tận Lào, Trung Quốc.
Trăn trở giữ nghề truyền thống
Trước những thay đổi của thời cuộc, từ sau năm 2005, nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ tại làng Hồng Đô bắt đầu thoái trào. Tơ Hồng Đô khó cạnh tranh được với tơ công nghiệp, sợi tổng hợp giá rẻ tràn ngập thị trường. Người trẻ rời làng đi làm công ty, khu công nghiệp. Ruộng dâu dần bị thay thế bằng rau, ngô khiến nguồn nguyên liệu đứt gãy, nghề càng khó bám trụ. Số hộ làm nghề cùng theo đó giảm dần từng năm. Đến hiện tại, cả làng chỉ còn vài hộ giữ nghề. Không ít nhà chỉ ươm tơ cầm chừng, thu nhập đủ xoay xở sinh hoạt.
Mặc dù đối diện với nhiều khó khăn, một số hộ dân ở Hồng Đô vẫn kiên quyết giữ nghề. Ảnh: Trung Quân.
Hiện nay, người dân làng Hồng Đô không còn trồng dâu, nuôi tằm. Để có nguyên liệu sản xuất, những hộ còn giữ nghề phải đi nhập kén từ Sơn La, các tỉnh Tây Bắc với giá hơn 200.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá bán tơ cũng chỉ đạt hơn 1,2 triệu đồng/kg, trừ chi phí chỉ có lãi vài trăm nghìn đồng/ngày.
Điều khiến ông Trường cũng như các hộ còn bám trụ với nghề trăn trở nhất không phải là thu nhập mà là tương lai của nghề ươm tơ ở Hồng Đô. Với người dân trong làng, nghề ươm tơ với họ không đơn thuần là kế sinh nhai mà là một phần ký ức. Dù biết rằng ngọn lửa ấy đang ngày càng leo lét giữa dòng chảy của thời gian nhưng vẫn âm thầm chờ một ngày hồi sinh.
Theo ông Trường, để khôi phục làng nghề, cần có quỹ đất để trồng dâu, nuôi tằm, tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ. Thế nhưng hiện nay đất sản xuất ở địa phương gần như không còn hoặc đã được sử dụng cho mục đích khác. Bên cạnh đó, phần lớn người dân trong làng hiện nay đi làm công ty. Công việc tuy vất vả theo ca kíp nhưng có thu nhập ổn định hàng tháng. So với nghề ươm tơ đòi hỏi nhiều công sức, lại không đều việc, người trẻ khó có thể lựa chọn quay lại với nghề truyền thống.
“Tơ Hồng Đô từng sánh vai cùng tơ Nam Định, lụa Hà Đông trong nửa đầu thế kỷ XX, để mất danh tiếng ấy thì thực sự tiếc. Nếu được quy hoạch bài bản vùng nguyên liệu, phát triển du lịch làng nghề, cho khách đến xem, trải nghiệm quay tơ thì nghề truyền thống của làng sẽ có cơ hội hồi sinh”, ông Trường chia sẻ.
Những ngày Tết cận kề, công việc của những người “giữ lửa” nghề ươm tơ của làng Hồng Đô dường như gấp gáp hơn. Tơ được quay, phơi, đóng gói để kịp chuyến đi các tỉnh và đưa đi Lào tiêu thụ. Từng sợi tơ mảnh mai vẫn đang nỗ lực nối quá khứ với hiện tại, gửi gắm niềm tin cho một tương lai khởi sắc hơn.



























