| Hotline: 0983.970.780

Nguồn gốc gỗ thành lợi thế cạnh tranh trước làn sóng siết truy xuất

Thứ Sáu 26/06/2026 , 19:01 (GMT+7)

Xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đạt kỷ lục 18,33 tỷ USD năm 2025, đưa nước ta vào nhóm 5 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, lợi thế về năng lực sản xuất và chi phí đang dần không còn đủ để duy trì vị thế khi các thị trường lớn chuyển trọng tâm từ kiểm tra sản phẩm sang kiểm tra toàn bộ hành trình của nguyên liệu, từ khu rừng đến thành phẩm.

Trong bối cảnh đó, khả năng chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp và minh bạch đang trở thành lợi thế cạnh tranh mới của ngành gỗ Việt Nam.

Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Nguyễn Văn Diện phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Bảo Thắng.

Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Nguyễn Văn Diện phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Bảo Thắng.

Việt Nam hiện có gần 15 triệu ha rừng với tỷ lệ che phủ hơn 42%, khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, sản phẩm đã có mặt tại gần 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thị phần toàn cầu đạt khoảng 7% trong tổng nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ thế giới khoảng 230 tỷ USD, cho thấy dư địa tăng trưởng còn rất lớn.

Nhưng để khai thác dư địa này, vấn đề không còn nằm chủ yếu ở việc mở rộng sản xuất mà chuyển sang đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Sự thay đổi này diễn ra đồng thời tại nhiều thị trường lớn. Liên minh châu Âu áp dụng Quy định chống mất rừng (EUDR), yêu cầu doanh nghiệp chứng minh sản phẩm không liên quan đến phá rừng sau ngày 31/12/2020 và phải cung cấp tọa độ GPS tới từng lô rừng.

Hoa Kỳ tiếp tục thực thi Đạo luật Lacey cùng các yêu cầu trong Thỏa thuận 301 về kiểm soát gỗ bất hợp pháp. Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia đều đã xây dựng các quy định riêng về xác minh nguồn gốc gỗ hợp pháp, trong khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU được dự báo sẽ từng bước mở rộng sang lĩnh vực lâm sản trong những năm tới.

Tại Hội thảo "Lâm nghiệp và phát triển bền vững ngành gỗ - nội thất ASEAN" ngày 26/6, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) cho rằng, phát triển bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp ASEAN tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Những yêu cầu mới không chỉ dừng ở chất lượng hay giá thành mà ngày càng nhấn mạnh đến tính hợp pháp của nguồn gỗ, khả năng truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ rừng và trách nhiệm môi trường - xã hội trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA). Ảnh: Bảo Thắng.

Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA). Ảnh: Bảo Thắng.

Thực tế cũng cho thấy, người mua ngày càng quan tâm đến bằng chứng hơn là cam kết. Theo TS Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (VFCO), 85% người tiêu dùng cho biết biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến quyết định mua sắm, 46% chủ động ưu tiên các sản phẩm bền vững.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp đều tuyên bố về phát triển bền vững, nhưng điều người mua và cơ quan quản lý cần là những thông tin có thể kiểm chứng độc lập về nguồn gốc nguyên liệu. Chính vì vậy, hệ thống truy xuất nguồn gốc và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm đang trở thành công cụ tạo dựng niềm tin với thị trường.

Không phải ngẫu nhiên truy xuất nguồn gốc được đặt ở vị trí trung tâm. Việt Nam hiện phụ thuộc khá lớn vào một số thị trường xuất khẩu chủ lực. TS Tô Xuân Phúc, chuyên gia cao cấp của Forest Trends thông tin, riêng Hoa Kỳ chiếm hơn 53% kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 5 tháng đầu năm 2026, tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc. Chỉ cần một thay đổi về tiêu chuẩn tại các thị trường này cũng có thể tác động trực tiếp đến hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.

Vì vậy, việc chứng minh nguồn gốc nguyên liệu không còn là yêu cầu riêng của từng thị trường mà đang trở thành điều kiện chung để duy trì năng lực cạnh tranh.

"Tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là yếu tố sống còn để duy trì niềm tin của thị trường quốc tế", Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Nguyễn Văn Diện nhấn mạnh. Ông nói thêm, rằng Việt Nam đang thúc đẩy xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa toàn chuỗi, từ khai thác rừng đến sản phẩm hoàn chỉnh, coi đây là con đường để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của ngành gỗ trên thị trường toàn cầu.

Trên cơ sở đó, Cục đề xuất các quốc gia ASEAN xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu chung về nguồn gốc lâm sản nhằm hình thành một khu vực có nguồn cung gỗ minh bạch và đáng tin cậy hơn.

TS Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (VFCO). Ảnh: Bảo Thắng.

TS Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (VFCO). Ảnh: Bảo Thắng.

Dù vậy, khoảng cách giữa yêu cầu của thị trường và năng lực thực tế vẫn còn khá lớn. Cả nước hiện có gần 15 triệu ha rừng nhưng mới chỉ khoảng 868.000 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo các hệ thống FSC hoặc VFCS-PEFC. Trong số 920 chủ rừng là tổ chức, mới có 446 đơn vị hoàn thành phương án quản lý rừng bền vững; riêng nhóm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế chỉ đạt 34,5%, thấp nhất trong ba nhóm chủ rừng.

Một trong những nguyên nhân là chi phí lập phương án và chứng nhận còn cao, dao động từ 50 đến 200 triệu đồng mỗi phương án, vượt khả năng của nhiều chủ rừng nhỏ.

Một điểm nghẽn khác nằm ở hệ thống truy xuất. Đến nay, Việt Nam mới thí điểm cấp mã số rừng trồng sản xuất trên khoảng 25.500 ha tại 5 tỉnh phía Bắc, con số rất nhỏ so với gần 4,9 triệu ha rừng trồng trên cả nước. Trong khi EUDR yêu cầu truy xuất tới từng lô rừng bằng tọa độ GPS, nhiều chủ rừng nhỏ vẫn thiếu thiết bị, thiếu kỹ năng số và cơ sở dữ liệu về rừng còn phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau, chưa thể kết nối và truy vấn theo thời gian thực.

"Yêu cầu truy xuất không chỉ tác động đến xuất khẩu sang châu Âu mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thương mại gỗ trong khu vực ASEAN", TS Tô Xuân Phúc nêu vấn đề.

Việt Nam đã triển khai Hiệp định VPA/FLEGT, chuẩn bị thực hiện EUDR, đồng thời áp dụng các yêu cầu trong Thỏa thuận gỗ bất hợp pháp với Hoa Kỳ. Điều này đồng nghĩa cả nguyên liệu nhập khẩu từ ASEAN cũng phải đáp ứng yêu cầu truy xuất nếu được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu sang các thị trường có tiêu chuẩn cao. Đây vừa là sức ép, vừa tạo cơ hội để các quốc gia trong khu vực xây dựng hệ thống truy xuất đồng bộ và minh bạch hơn.

Để thu hẹp khoảng cách này, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 1 triệu ha rừng có chứng chỉ quản lý bền vững, 100% rừng của các chủ rừng là tổ chức được quản lý bền vững, xây dựng hệ thống thông tin truy xuất gỗ (TTIS) tích hợp mã số rừng trồng, bảng kê lâm sản điện tử, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và giấy phép FLEGT.

Ngoài ra, mở rộng mã số rừng trồng ra 15-20 địa phương trọng điểm, hỗ trợ thiết bị GPS, đào tạo lực lượng kiểm lâm cấp xã và chủ rừng nhỏ, đồng thời nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ chứng chỉ rừng nhằm giảm chi phí cho hộ gia đình và các nhóm liên kết.

Xem thêm
Thủ tướng: Tuyên Quang phải nỗ lực gấp 2-3 lần để bứt phá tăng trưởng

Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Tuyên Quang nỗ lực gấp 2-3 lần để đạt tăng trưởng hai con số, đồng ý chủ trương đầu tư cao tốc Tuyên Quang-Hà Giang 4 làn.

Mưa lớn gây sạt lở ở Lai Châu, quốc lộ 279 không thể di chuyển

LAI CHÂU Sau trận mưa lớn tại đêm 15/7, nhiều tuyến đường tỉnh lộ của Lai Châu bị sạt lở, tại hướng đi các xã Mường Than, Sìn Hồ, Sin Suối Hồ..

Bình luận mới nhất

Nguồn gốc gỗ thành lợi thế cạnh tranh trước làn sóng siết truy xuất
Thời sự 2 tuần trước