Nơi bảo tồn nguồn gen quý sâm Lai Châu
Sau 10 năm phát triển, Hợp tác xã Bảo tồn Phát triển Sâm núi Lai Châu đã xây dựng được hệ thống sản xuất bài bản từ vườn giống đến hệ thống chăm sóc trong nhà màng, với trọng tâm là bảo tồn nguồn gen và phát triển cây giống chất lượng cao. Từ một vườn ươm ban đầu, đến nay đơn vị đã sở hữu 10 vườn ươm đạt tiêu chuẩn, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển giống sâm bản địa.
Sâm Lai Châu được trồng dưới tán rừng. Ảnh: Đức Bình.
Ông Phạm Trung Ngọc, Chủ tịch Hợp tác xã Bảo tồn Phát triển Sâm núi Lai Châu (xã Tả Lèng, tỉnh Lai Châu), cho biết: “Chúng tôi đang bảo tồn nguồn gen quý cho Viện Khoa học Lâm sinh (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đồng thời phát triển hệ thống vườn ươm đạt chuẩn để cung cấp giống chất lượng cao cho thị trường".
Mỗi năm, hợp tác xã cung ứng khoảng 20.000 cây sâm thuần chủng. Theo ông Ngọc, sâm là loại cây đặc thù, không thể phát triển theo tư duy ngắn hạn: “Trồng sâm phải mất từ 5-10 năm mới có sản phẩm. Ngay cả cây giống cũng cần ít nhất 5 năm để đảm bảo nguồn gen chuẩn”.
Quy trình sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt từ khâu chọn cây bố mẹ, xử lý hạt giống đến điều kiện đất, độ ẩm và dinh dưỡng. “Cây bố mẹ phải đủ 5 năm tuổi trở lên mới cho hạt tốt. Hạt phải đạt tỷ lệ nảy mầm 80-90% thì mới đảm bảo hiệu quả”, ông Ngọc nhấn mạnh.
Ông Phạm Trung Ngọc, Chủ tịch Hợp tác xã Bảo tồn Phát triển Sâm núi Lai Châu. Ảnh: Đức Bình.
Hiện hợp tác xã đang duy trì khoảng hơn 30.000 cây sâm từ 1-3 năm tuổi. Khi đạt 3 năm tuổi, cây sẽ được đưa ra trồng dưới tán rừng tự nhiên vừa bảo vệ hệ sinh thái, vừa giúp nâng cao chất lượng hoạt chất trong sâm. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đòi hỏi kỹ thuật cao và sự theo dõi sát sao. “Phải che chắn, bồi đất và bón phân hữu cơ định kỳ để cây phát triển tốt”, ông Ngọc cho biết.
Không dừng lại ở sản xuất, hợp tác xã còn trực tiếp chuyển giao kỹ thuật cho người trồng. “Chúng tôi hướng dẫn, giám sát đến khi cây đạt tỷ lệ sống 90-100% mới thanh toán. Đó là cách chúng tôi giữ uy tín”, ông nói.
Tháo điểm nghẽn
Dù sở hữu nền tảng chất lượng vững chắc, sâm Lai Châu vẫn chưa tạo dựng được vị thế tương xứng trên thị trường. Theo ông Phạm Trung Ngọc, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay chính là đầu ra sản phẩm.
“Chúng tôi đã tham gia nhiều hội chợ, chương trình OCOP và quảng bá thương hiệu, nhưng việc liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ vẫn còn hạn chế”, ông Ngọc chia sẻ.
Thực tế này khiến sản phẩm khó tiếp cận thị trường rộng lớn, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng sản xuất. Trong khi đó, sự cạnh tranh từ sâm ngoại nhập giá rẻ, không rõ nguồn gốc ngày càng gay gắt.
Bài toán vốn cũng là rào cản lớn. Để đầu tư một vườn ươm khoảng 1.000 m² cần từ 2-3 tỷ đồng, trong khi chu kỳ sản xuất kéo dài 5-7 năm. “Lãi suất ngân hàng cao, chưa có hỗ trợ rõ ràng nên rất khó để mở rộng quy mô”, vị chủ hợp tác xã bộc bạch.
Hệ thống nhà màng và tưới tiêu tự động vùng trồng sâm của Hợp tác xã Bảo tồn Phát triển Sâm núi Lai Châu. Ảnh: Đức Bình.
Bên cạnh thu sản phẩm củ tươi, việc nâng tầm sâm Lai Châu còn đòi hỏi phát triển chế biến sâu. Tuy nhiên, lĩnh vực này hiện vẫn còn nhiều hạn chế. “Chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu để sản xuất các sản phẩm như thuốc hay thực phẩm chức năng. Nếu người dân tự làm thì hiệu quả không cao”, ông Ngọc thẳng thắn.
Bên cạnh đó, việc bảo vệ thương hiệu và người sản xuất chân chính cũng là vấn đề đáng lo ngại. Dù đã có chứng nhận và truy xuất nguồn gốc, thị trường vẫn tồn tại nhiều sản phẩm kém chất lượng, ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng.
Từ thực tiễn này, nhu cầu “nâng tầm” sâm Lai Châu không chỉ là mong muốn của người sản xuất mà còn là yêu cầu tất yếu để phát triển bền vững. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ từ chính sách, khoa học công nghệ đến thị trường tiêu thụ.
“Chúng tôi mong muốn có định hướng rõ ràng trong việc nâng cao chất lượng, quảng bá thương hiệu và hỗ trợ tiêu thụ để người dân yên tâm sản xuất”, ông Ngọc bày tỏ.
Những "ngôi nhà sâm" đang dần phủ đều trên các dải vùng cao tại Tả Lèng. Ảnh: Đức Bình.
Giải pháp thoát nghèo
Sau hợp nhất từ 3 xã Giang Ma, Hồ Thầu và Tả Lèng, xã Tả Lèng mới có diện tích rừng lên đến hơn 7.900 ha, tỷ lệ che phủ đạt 60,7%. Xã có gần 100 ha khu vực núi cao trên 1.000 m, sở hữu điều kiện thuận lợi về khí hậu và thổ nhưỡng, tạo nền tảng lý tưởng cho nhiều loài dược liệu phát triển, trong đó nổi bật là cây sâm.
Tổng diện tích sâm Lai Châu trên địa bàn xã đã tăng lên gần 15 ha, phân bố tại các bản như Sì Thâu Chải, Lao Chải, Phô Hồ Thầu… Đã có 2 doanh nghiệp vào đầu tư, 1 hợp tác xã và diện tích còn lại do các nhóm hộ dân trồng những giống sâm có sẵn tại địa phương.
2 ha sâm của Tả Lèng đã bước vào giai đoạn khai thác. Bên cạnh sản phẩm củ tươi, các cơ sở đã đầu tư nhà xưởng để đẩy mạnh chế biến sâu, cho ra nhiều dòng sản phẩm như trà sâm, sâm ngâm mật ong, rượu sâm… Giá trị sản phẩm dao động từ 300.000 đến 800.000 đồng tùy theo hàm lượng và cách chế biến. Đồng thời, hai cơ sở sản xuất giống sâm đã được cấp mã số, góp phần hoàn thiện nền tảng cho chuỗi liên kết khép kín từ giống, phương pháp trồng, đến chế biến đến tiêu thụ.
Trao đổi với Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Hoàng Văn Chinh, Bí thư Đảng ủy xã Tả Lèng cho biết, cây sâm được phát triển tốt trên địa bàn tỉnh nói chung, cũng như xã Tả Lèng nói riêng, đã tạo ra việc làm, giúp bà con không phải đi làm ăn xa. Khi có vườn sâm tại địa phương, bà con có thể có việc làm ổn định, với mức lương do các công ty, doanh nghiệp sâm chi trả phù hợp. Vì vậy, nếu mở rộng diện tích, chắc chắn sẽ thu hút người dân ở lại, yên tâm lao động sản xuất.
Lãnh đạo xã Tả Lèng cũng chia sẻ thêm, địa phương đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lai Châu rà soát, xác định các quỹ đất phù hợp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở chế biến sâu sản phẩm sâm. Đồng thời, các thủ tục pháp lý và quyền lợi liên quan cũng sẽ được hỗ trợ tối đa để các đơn vị sớm đi vào hoạt động.
Từ việc có các doanh nghiệp vào đầu tư phát triển trên địa bàn xã, các công trình phụ trợ, đường sá được sửa sang, giúp người dân đi lại thuận tiện, nhiều hộ thay vì phụ thuộc vào nương rẫy giờ có thêm thu nhập; nguồn thu này đã góp phần xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo của xã còn khoảng 10% và địa phương đang phấn đấu đến năm 2030 giảm xuống dưới 2%, theo mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu cũng như của xã đã đề ra. Việc trồng sâm được xác định là một trong những hướng đi quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế theo nghị quyết.
Nghị quyết của Tả Lèng đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ hình thành vùng trồng sâm tập trung khoảng 50 ha; trồng mới ít nhất 5 ha; 100% diện tích tập trung của doanh nghiệp, hợp tác xã được cấp mã số vùng trồng và chỉ dẫn địa lý; xây dựng một cơ sở chế biến và phát triển thêm nhiều sản phẩm OCOP từ sâm. Riêng năm 2026, Tả Lèng phấn đấu phát triển thêm khoảng 9 ha.
























