Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, biển đảo luôn là phần máu thịt không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Từ những đội hùng binh Hoàng Sa năm xưa đến những ngư dân ngày đêm bám biển hôm nay, chủ quyền biển đảo không chỉ là vấn đề lãnh thổ, mà còn là biểu tượng của ý chí, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của quốc gia.
Nhưng trong bối cảnh mới, biển đảo Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa thiêng liêng về chủ quyền – mà còn mở ra một không gian phát triển kinh tế đa tầng, đa giá trị, đóng vai trò chiến lược trong tương lai đất nước.




Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ, trải dài từ Bắc vào Nam. Trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ có ý nghĩa địa chính trị đặc biệt, mà còn là minh chứng lịch sử cho chủ quyền liên tục, hòa bình của Việt Nam trên Biển Đông. Biển đảo không chỉ là không gian địa lý, mà là “tuyến đầu” của Tổ quốc. Mỗi con tàu vươn khơi, mỗi đảo tiền tiêu được giữ vững là một cột mốc sống, khẳng định sự hiện diện và quyền làm chủ của dân tộc Việt Nam giữa đại dương. Từ tài nguyên đến hệ sinh thái kinh tế đa tầng Nếu trước đây, kinh tế biển chủ yếu gắn với khai thác hải sản và vận tải, thì ngày nay, biển đảo Việt Nam đang chuyển mình sang mô hình kinh tế đa tầng – nơi nhiều ngành kinh tế cùng tồn tại, bổ trợ và nâng giá trị lẫn nhau.


Ngành thủy sản đang chuyển từ khai thác truyền thống sang nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, IoT và quản lý chuỗi giá trị. Đây là hướng đi bền vững, giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên, đồng thời nâng cao giá trị xuất khẩu.


Các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, khai thác khí – dầu, đóng tàu và logistics biển đang trở thành động lực tăng trưởng mới. Việt Nam có tiềm năng lớn để trở thành trung tâm năng lượng tái tạo khu vực Đông Nam Á.




Những địa danh như Phú Quốc, Côn Đảo hay Nha Trang đang chuyển mình thành các trung tâm du lịch nghỉ dưỡng quốc tế. Không chỉ là nghỉ dưỡng, du lịch biển còn gắn với trải nghiệm văn hóa, sinh thái và lịch sử.






Với vị trí nằm trên tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam có lợi thế lớn để phát triển cảng biển, trung tâm trung chuyển và chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là tầng kinh tế mang tính kết nối, tạo lực đẩy cho toàn bộ hệ sinh thái biển.


Không gian biển ven bờ, những vị trí có cảnh quan hạn chế, ảnh hưởng sâm thực do biển đồi khí hậu, các vị trí đảo hoang sơ nhiều đá khó phát triển, cần cải tạo, bổi đắp để tạo nên cảnh quan sinh động và phục vụ khai thác dịch vụ phát triển kinh tế…






Dù tiềm năng lớn, kinh tế biển Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển, khai thác quá mức và cạnh tranh địa chính trị phức tạp trên biển.
Hạ tầng dịch vụ xã hội… khó đáp ứng đủ và kíp thời nhu cầu sống, đầu tư và khai thác, cơ chế chính sách chưa thật sự hấp dẫn, đặc thù, chưa tạo sức hấp dẫn để thu hút nguồn lực.
Phát triển kinh tế biển đa tầng đòi hỏi một tư duy quản trị mới
Cần rà soát tổng thể, định hướng qui hoạch, tích hợp quy hoạch liên ngành, liên vùng, đa tầng.
Gắn kinh tế với quốc phòng – an ninh
Đặt con người và cộng đồng ven biển, nhà đầu tư yêu biển, tư duy kinh tế biển vào trung tâm.
Tầm nhìn chiến lược: Quốc gia mạnh từ biển
Nghị quyết phát triển kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã xác định rõ: Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển.
Điều đó không chỉ nằm ở định hướng mà cần đến quyết liệt hành động. Bằng cơ chế chính sách mang tính đặc biệt, đặc thù, phù hợp theo mục tiêu kinh tế, hấp dẫn mọi nhu cầu phát triển, khai thác đầy đủ giá trị kinh tế đã tăng, làm chủ không gian biển, bảo vệ hệ sinh thái và xây dựng một nền kinh tế biển hiện đại, xanh và bền vững.


Biển đảo Việt Nam vừa là di sản thiêng liêng, vừa là không gian phát triển chiến lược. Trong kỷ nguyên mới, bài toán không còn là “khai thác bao nhiêu”, mà là “tạo giá trị như thế nào”.
Khi kinh tế biển được tổ chức theo mô hình đa tầng, tích hợp và bền vững, Việt Nam không chỉ giữ vững chủ quyền – mà còn vươn mình trở thành một quốc gia biển mạnh, có vị thế trong khu vực và trên thế giới.


