Những cuộc đổi đời từ tín dụng xanh Agribank

 

 

Từ một góc sân cũ của xưởng đá năm nào tại xã Như Thanh (Thanh Hóa), nơi từng có một anh bảo vệ lặng lẽ trông coi máy móc, giờ đã gây dựng nên cả một cơ ngơi bề thế. Ít ai ngờ, anh Vũ Đăng Bắc, người đàn ông đứng đầu Công ty TNHH Đại Phát hôm nay lại từng bắt đầu từ chính chỗ đứng khiêm nhường ấy.

Anh Bắc nói chuyện chậm rãi, nhắc đến mình thì còn hơi ngại. Hỏi mãi anh mới chịu kể, từng chút một, như nhớ lại chuyện cũ. Năm 2005, anh xin vào làm bảo vệ cho xưởng đá ngay trên mảnh đất quê Như Thanh, nơi sau này trở thành “đại bản doanh” của doanh nghiệp anh gây dựng.

 

 

Những ngày đó, công việc của anh chỉ gói gọn trong việc trông coi, khóa cổng, mở cửa. Nhưng chính quãng thời gian đứng bên lề guồng quay sản xuất ấy lại giúp anh hiểu dần về cách vận hành của một cơ sở làm ăn. Rồi khi xưởng đá đóng cửa, nhiều người rời đi, anh ở lại với một câu hỏi: “Mình sẽ làm gì tiếp theo trên mảnh đất này hay tiếp tục đi làm thuê cho người khác?”.

Không có vốn liếng, cũng chưa từng trải trong nghề, anh Bắc khởi đầu từ những đồi keo quen thuộc của quê nhà. Tận dụng mảnh đất gia đình, anh mở một điểm thu mua gỗ nhỏ, lặng lẽ gom từng chuyến hàng, gây dựng dần các mối quen. Nhưng càng làm, anh càng nhận ra cách làm manh mún, cầm chừng ấy khó có thể đưa mình đi xa. Muốn bứt lên, anh buộc phải chọn một hướng đi táo bạo và trách nhiệm hơn.

Anh Bắc kể: “Tôi khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng. Tôi phải mượn sổ đỏ của bố mẹ để thế chấp vay ngân hàng. Nói thật là cũng run lắm, vì nếu làm không được thì không biết lấy gì trả”.

Khoản vay 500 triệu đồng từ Ngân hàng Agribank Chi nhánh Nam Thanh Hóa khi ấy với anh, là cả một gia tài và cũng là một canh bạc. Số tiền ấy được dồn hết vào việc đầu tư máy móc, xe chở keo.

 

 

 

 

Anh vừa là chủ, vừa là người làm thuê cho chính mình. Anh tự đi gom hàng, tự cân đo, tự chở đi bán cho các cơ sở chế biến, chắt chiu từng đồng lãi nhỏ. Công việc “lấy công làm lãi” kéo dài qua nhiều năm, đủ để tích lũy chút vốn liếng và kinh nghiệm.

“Có vốn ngân hàng, mình mới dám làm, dám nghĩ lớn hơn. Nếu không có nguồn vốn ban đầu đó, chắc cũng không có Đại Phát ngày hôm nay,” anh Bắc nhớ lại.

Từ một điểm thu mua nhỏ, anh bắt đầu thuê thêm đất ngay chính xưởng đá trước đây từng làm bảo vệ, mở rộng quy mô sản xuất trên diện tích đất gần 3 ha. Đến năm 2016, khi đã tích lũy đủ lực, anh Bắc thành lập Công ty TNHH Đại Phát, chính thức bước vào lĩnh vực chế biến lâm sản theo hướng chuyên nghiệp và trách nhiệm hơn.

Nhưng thị trường chưa bao giờ đứng yên và người làm ăn cũng không thể chôn chân mãi với cách làm cũ. Từ chỗ chủ động được nguồn hàng, nhà máy của anh bắt đầu chững lại khi thị trường gỗ keo bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt. Khắp các vùng đồi, những điểm thu mua, xưởng nhỏ mọc lên dày đặc. Các đầu nậu ít đầu tư chế biến nhưng sẵn sàng trả giá cao để gom hàng, khiến dòng nguyên liệu bị xáo trộn.

Anh Bắc nhớ lại, giọng vẫn còn nguyên nỗi trăn trở: “Mình giữ giá ổn định để làm ăn lâu dài, nhưng họ lại đẩy giá lên cao để mua nhanh. Thành ra nguyên liệu cho nhà máy bị hụt đi rất nhiều, có lúc đứng trước nguy cơ phá sản”.

 

 

Chưa hết, có lần, vì quá tin tưởng đối tác, anh Bắc đưa hàng vào tận Quy Nhơn mà không yêu cầu đặt cọc. Hàng đã giao xong, nhưng tiền thì bặt vô âm tín. Cú vấp ấy khiến anh thiệt hại hơn 1 tỷ đồng.

Sau cú ngã đó, anh lại gồng mình làm lại từ đầu. Vừa rút kinh nghiệm, vừa thắt chặt cách làm ăn, anh tiếp tục xoay xở vốn liếng, từng bước khôi phục sản xuất và tìm kiếm hướng đi mới bền vững hơn: đầu tư chế biến sâu và chủ động nguồn nguyên liệu, mở rộng thị trường. Hướng đi này không chỉ thay đổi quy mô sản xuất của doanh nghiệp, mà còn mở ra cánh cửa đưa sản phẩm từ vùng đồi Như Thanh ra thị trường nước ngoài.

Từ những khúc gỗ keo thô, doanh nghiệp của anh từng bước chuyển sang chế biến sâu, sản xuất ván ép phủ phim phục vụ xuất khẩu. Không dừng lại ở đó, để có nguồn nguyên liệu bền vững, doanh nghiệp liên kết với người dân, quy hoạch vùng trồng keo theo tiêu chuẩn FSC. Lựa chọn con đường này cũng đồng nghĩa với việc phải đầu tư lớn, và một lần nữa, anh Bắc chấp nhận “liều” như những ngày đầu khởi nghiệp, mạnh dạn vay hàng chục tỷ đồng từ Ngân hàng Agribank Chi nhánh Nam Thanh Hóa để nâng cấp công nghệ, mở rộng nhà xưởng và tìm kiếm đối tác xuất khẩu.

Đến nay, doanh nghiệp đã liên kết với gần 544 hộ dân, triển khai trồng rừng theo hướng bền vững. Trên cơ sở đó, đơn vị đang từng bước hoàn thiện hồ sơ để cấp chứng chỉ FSC cho gần 3.000 ha rừng.

Anh Bắc nói: “Nếu mình không thay đổi, thời cuộc sẽ thay đổi mình. Tìm hướng đi mới là cách sinh tồn duy nhất của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt nguyên liệu như bây giờ”.

Từ chỗ chỉ có vài chục lao động ban đầu, đến nay công ty đã tạo việc làm thường xuyên cho 200 người, với thu nhập ổn định mỗi người từ 10 đến14 triệu đồng/tháng. Doanh thu của doanh nghiệp hằng năm đạt trên 120 tỷ đồng. Công ty TNHH Đại Phát cũng là doanh nghiệp tiên phong của tỉnh Thanh Hóa trong việc xuất khẩu ván ép phủ phim ra nước ngoài.

Với anh Bắc, vốn vay Agribank không chỉ là nền tảng phát triển sản xuất mà còn là niềm tin để một người nông dân dám bước qua lằn ranh an toàn. Từ lần cầm cố sổ đỏ đầu tiên đến những khoản vay hàng chục tỷ đồng sau này, mỗi quyết định đều đi kèm áp lực không nhỏ. Nhưng cũng chính áp lực ấy buộc anh phải tính toán bài bản hơn, làm ăn dài hơi hơn, và gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với sinh kế của người dân quanh vùng.

 

 

Ở những triền đồi Xuân Du, Mậu Lâm (huyện Như Thanh cũ, tỉnh Thanh Hóa), nơi trước kia người dân trồng keo theo thói quen, mạnh ai nấy làm, nay đã khác. Đồi vẫn là đồi, cây vẫn là cây keo quen thuộc, nhưng cách làm đã dần đổi thay, bài bản hơn, tính toán hơn, và quan trọng là đầu ra không còn bấp bênh như trước.

Sự thay đổi ấy bắt đầu từ một bài toán rất cụ thể: doanh nghiệp thiếu nguyên liệu, còn người dân thì thiếu đầu ra ổn định và thiếu vốn để làm dài hơi. Hai cái “thiếu” gặp nhau, buộc phải tìm một cách làm mới, đó là liên kết cùng có lợi.

Để tháo gỡ khó khăn về nguồn nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ dăm, anh Đỗ Xuân Bình, Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Bảo Thành (xã Xuân Du) không tìm nguồn gỗ ở nơi khác, mà quay về liên kết với chính người dân địa phương, phát triển rừng theo tiêu chuẩn FSC. Cách làm được hình thành theo chuỗi: Ngân hàng Agribank Chi nhánh Nam Thanh Hóa hỗ trợ vốn cho cả nông dân và doanh nghiệp; doanh nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất, đồng thời hỗ trợ người dân trồng rừng FSC thông qua các đơn vị chuyên trách.

Nhờ đó, từ năm 2024, doanh nghiệp đã phối hợp với hơn 1.000 hộ dân triển khai trên 3.300 ha rừng tại Xuân Du và Mậu Lâm theo hướng này. Đến nay, toàn bộ diện tích đã được cấp chứng chỉ FSC. Không chỉ dừng lại ở một tấm “giấy thông hành”, điều quan trọng hơn là cách làm rừng của người dân đã thay đổi: từ trồng tự phát sang làm theo quy trình, có tiêu chuẩn rõ ràng và có đầu ra ổn định.

Trong chuỗi liên kết ấy, doanh nghiệp đóng vai trò “đầu kéo”: hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn từ khâu giống, trồng, chăm sóc đến khai thác, đồng thời bao tiêu sản phẩm. Người dân yên tâm sản xuất vì có nơi bán; doanh nghiệp cũng yên tâm vì có vùng nguyên liệu ổn định, lâu dài.

 

 

Anh Bình cho biết, nếu như trước đây, mỗi hecta rừng chỉ đạt khoảng 85-90 tấn gỗ, thì nay với quy trình trồng rừng FSC, trữ lượng có thể lên tới 140 tấn/ha sau 6-7 năm. Giá bán cũng cao hơn, mỗi tấn tăng thêm 20.000 đến 30.000 đồng, tính ra mỗi ha nông dân tăng thu hơn 2 triệu đồng.

Chưa dừng lại, dự kiến năm 2026, Công ty Bảo Thành sẽ mở rộng thêm hơn 1.500 ha rừng FSC tại Xuân Du. Ngoài mức hỗ trợ 300.000 đồng/ha từ Nhà nước, doanh nghiệp còn hỗ trợ thêm 350.000 đồng/ha, tiếp thêm động lực để người dân yên tâm gắn bó với cách làm mới. 

Từ một mô hình xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, cách làm ấy dần lan rộng và trở thành hướng đi chung của nhiều địa phương trong tỉnh, nơi người dân không còn trồng rừng đơn lẻ, mà bắt đầu tham gia vào một chuỗi liên kết có tổ chức, có đầu ra.

Ông Hàn Văn Huyên, Chủ tịch UBND xã Như Thanh, cho biết: với hơn 5.327 ha đất lâm nghiệp trên tổng diện tích tự nhiên hơn 84 km², địa phương xác định lâm nghiệp là mũi nhọn phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nếu vẫn giữ cách làm cũ, trồng ngắn ngày, khai thác sớm, thì giá trị mang lại không cao, đời sống người dân khó cải thiện.

Theo định hướng từ xã Như Thanh, trọng tâm không chỉ là mở rộng diện tích, mà là nâng trữ lượng rừng trên mỗi ha kéo dài chu kỳ khai thác và hướng tới phát triển bền vững. Muốn vậy, người dân thay đổi cách làm và sự thay đổi ấy chỉ thực sự khả thi khi có doanh nghiệp đứng ra liên kết, dẫn dắt và bao tiêu sản phẩm.

“Doanh nghiệp không chỉ thu mua mà còn cùng địa phương xây dựng vùng nguyên liệu, hướng tới chứng chỉ FSC. Khi đạt được, giá trị rừng sẽ tăng ít nhất 1,3 lần so với hiện nay,” ông Huyên nói.

Trong chuỗi liên kết đó, doanh nghiệp như Đại Phát hay Bảo Thành là khâu sản xuất tiêu thụ, còn chính quyền đóng vai trò kết nối, định hướng. Nhưng để chuỗi này vận hành được, vẫn cần một yếu tố quan trọng khác đó là vốn.

 

 

Chuỗi liên kết bền chặt giữa nhà nông, nhà nước, doanh nghiệp có sự đóng góp không nhỏ của Ngân hàng Agribank Nam Thanh Hóa khi đưa dòng vốn đến gần hơn với người dân thông qua các tổ vay vốn cơ sở. Nhờ đó, người dân có điều kiện đầu tư trồng rừng theo hướng dài hạn, thay vì khai thác sớm như trước.

“Hiện nay, riêng lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn xã có gần 200 hộ vay, với tổng dư nợ khoảng 76 tỷ đồng. Chính quyền và ngân hàng luôn phối hợp để giải quyết bài toán về vốn để bà con yên tâm sản xuất,” ông Huyên cho biết.

Không chỉ dừng ở việc cho vay, dòng vốn tín dụng còn là “mắt xích” giúp hoàn thiện chuỗi liên kết: người dân có vốn để trồng rừng đạt chuẩn, doanh nghiệp có nguyên liệu ổn định để chế biến, còn chính quyền kết nối thị trường, đặc biệt là xuất khẩu. Nhờ đó, đầu ra sản phẩm gỗ keo được giữ ổn định, hạn chế tình trạng “được mùa mất giá”.

Song song với cây keo, địa phương cũng định hướng phát triển rừng gỗ lớn với chu kỳ 15-20 năm, thử nghiệm thêm các loại cây bản địa như lim xanh, từng bước đa dạng hóa hệ sinh thái và nâng cao giá trị sản xuất.

Ở thôn Liên Thành, xã Luận Thành, tỉnh Thanh Hóa, anh Nguyễn Sỹ Huyện chọn gắn đời mình với rừng. Không phải vài sào, vài mẫu, mà là gần 50 ha keo trải dài theo sườn đồi. Xen dưới tán rừng, anh trồng thêm 3 ha cây cát sâm.

Để gây dựng được cơ ngơi ấy, anh Huyện cũng từng phải đưa ra một quyết định không hề dễ dàng. Không có vốn trong tay, anh mạnh dạn cầm cố sổ đỏ, vay 1,6 tỷ đồng từ Agribank Nam Thanh Hóa để thuê đất, mua giống, trồng rừng. “Lúc ký giấy vay cũng lo lắm, nhưng không vay thì ở vùng núi này không biết làm gì mà ăn”, anh kể.

Anh Huyện trồng rừng cách đây gần chục năm. 5 năm trước, lứa keo đầu tiên đã cho thu hoạch, mang lại thu nhập hơn 500 triệu đồng, lứa keo thứ hai cũng đang đến kỳ xuất bán. Anh Huyện nhẩm tính, bình quân mỗi hecta đạt khoảng 130-140 tấn gỗ, với giá bán khoảng 1,4 triệu đồng/tấn, mỗi hecta mang về chừng 170-180 triệu đồng. Cứ thế, từng khoảnh đồi trước kia chỉ là đất trống, nay thành nguồn thu ổn định cho gia đình.

 

 

Không chỉ trông vào cây keo, anh Huyện có 3 ha Cát Sâm cũng đang hứa hẹn vụ mùa bội thu với sản lượng ước đạt khoảng 12 tấn, mang lại gần 1 tỷ đồng doanh thu. Anh cho biết: “Có vốn vay của Agribank, nông dân như mình mới dám làm, dám đầu tư dài hơi. Không thì chỉ quanh quẩn làm nhỏ lẻ, khó mà khá lên được”.

Không chỉ riêng hộ gia đình anh Huyện, trong những năm qua, Agribank Nam Thanh Hóa hiện đang hỗ trợ cho hàng chục nghìn hộ dân tại Thanh Hóa phát triển kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa phương trong tỉnh.

Từ những khoản vay tưởng như rất “đời thường” của người nông dân, một bức tranh lớn hơn về dòng tín dụng “xanh” đang dần hiện rõ. Ở khu vực phía Nam Thanh Hóa, Agribank không chỉ là nơi cho vay, mà đang trở thành “bệ đỡ” quan trọng cho cả một chuỗi sản xuất nông - lâm nghiệp – thủy sản...

Ông Trần Văn Thành, Giám đốc Agribank Nam Thanh Hóa cho hay, sau hơn 7 năm Chi nhánh được thành lập (Cấp 1) được chia tách từ Agribank Thanh Hóa đến nay Agribank Nam Thanh Hóa hoạt động tích cực, hiệu quả cao. Cụ thể, tổng nguồn vốn và dư nợ của đơn vị đã đạt gần 41 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 2,6 lần so với thời điểm thành lập. Riêng năm 2025, tổng dư nợ đạt 20.964 tỷ đồng, tăng hơn 2.400 tỷ đồng so với đầu năm, trong khi tỷ lệ nợ xấu chỉ ở mức 0,21%. Con số cho thấy dòng vốn được sử dụng hiệu quả, đi đúng hướng.

Đáng chú ý, dòng tín dụng không dàn trải, mà tập trung mạnh vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, chiếm trên 75% tổng dư nợ. Trong đó, tín dụng “xanh” đang nổi lên như một hướng đi chủ đạo, với tổng dư nợ đạt khoảng 6.900 tỷ đồng, tương đương 32% tổng dư nợ toàn chi nhánh.

Trong cơ cấu tín dụng, Agribank Nam Thanh Hóa dành nguồn lực lớn cho lĩnh vực lâm nghiệp với dư nợ đạt gần 4.400 tỷ đồng. Riêng đối với lâm nghiệp bền vững - lĩnh vực gắn trực tiếp với sinh kế của người dân miền núi, dư nợ hiện đạt hơn 1.113 tỷ đồng. Nếu tính theo chuỗi liên kết từ trồng rừng đến chế biến, xuất khẩu lâm sản, tổng dư nợ đã lên tới 1.819 tỷ đồng, với hàng ngàn khách hàng đang còn dư nợ, phần lớn là các hộ dân. 

Những con số ấy không chỉ nằm trên báo cáo. Nó hiện diện trên từng cánh rừng, từng triền đồi, nơi người dân đã bắt đầu thay đổi cách làm, từ trồng ngắn ngày sang đầu tư dài hạn, từ làm riêng lẻ sang liên kết theo chuỗi để tạo ra giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Và trong câu chuyện ấy, Agribank nói chung, Agribank - Chi nhánh Nam Thanh Hóa nói riêng không chỉ là ngân hàng, mà đang đóng vai trò như một “đòn bẩy” âm thầm nhưng đủ lực để nâng bước người nông dân trên hành trình làm giàu từ chính đất đai quê mình.

Trần Quốc Toản
Trương Khánh Thiện
Agribank
Xem thêm