Sáng 1/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp nhằm đánh giá toàn diện kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai; nhận diện, xác định rõ nguyên nhân để đề ra nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục hoàn thiện mô hình và nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị trong thời gian tới.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị. Đồng chủ trì có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt và Trưởng Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Hội nghị. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN.
Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại điểm cầu Trung ương ở Hội trường Diên Hồng (Tòa nhà Quốc hội), kết nối trực tuyến đến 3.651 điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và các điểm cầu cấp xã, với 557.099 đại biểu tham dự.
Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị đồng bộ triển khai cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển sang mô hình vận hành 3 cấp từ ngày 1/7/2025. Sau một năm vận hành, Bộ Chính trị giao Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành sơ kết việc triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, với phạm vi thực hiện từ cấp xã hoặc tổ chức hội nghị sơ kết cấp tỉnh, cấp bộ, ngành.
Để phục vụ công tác sơ kết, Ban Chỉ đạo đã tổ chức 3 hội nghị khảo sát trực tuyến với 13 tỉnh, thành phố và 8 điểm cầu xã, phường; thành lập 10 đoàn khảo sát trực tiếp tại 6 địa phương (làm việc ở cả cấp tỉnh và cấp xã, phường) cùng 4 cơ quan Trung ương. Đồng thời, Ban Chỉ đạo đề nghị các thành viên, một số cơ quan, viện nghiên cứu, chuyên gia, nhà khoa học xây dựng các báo cáo chuyên đề, cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Trên cơ sở 82 báo cáo của các địa phương, cơ quan, đơn vị và 20 chuyên đề của thành viên Ban Chỉ đạo, các chuyên gia, nhà khoa học, Ban Chỉ đạo đã tổng hợp, xây dựng dự thảo Báo cáo; tiếp thu ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo tại hai buổi làm việc ngày 2/6/2026 và 18/6/2026 để hoàn thiện dự thảo trình Bộ Chính trị tại phiên họp ngày 26/6/2026.
Theo báo cáo, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, quyết liệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, toàn hệ thống đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn trong thời gian ngắn, cơ bản giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tổ chức bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị hoạt động liên tục, thông suốt, không để khoảng trống quyền lực, không làm gián đoạn việc phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Thực tiễn sau một năm triển khai cho thấy, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, chính quyền 3 cấp đã đạt nhiều kết quả bước đầu quan trọng.
Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN.
Về hoàn thiện thể chế, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành 4 văn kiện; Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành 61 kết luận. Quốc hội ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; thông qua 94 luật, 28 nghị quyết của Quốc hội và 55 pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ ban hành theo thẩm quyền 467 văn bản quy phạm pháp luật và 65 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hướng dẫn. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương ban hành 71 văn bản phục vụ sắp xếp tổ chức bộ máy, hoạt động của cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã và hướng dẫn cơ chế phối hợp công tác trong mô hình mới. Ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy đã cụ thể hóa các văn bản của Trung ương, ban hành tổng số 13.489 văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy, kết thúc hoạt động cấp huyện và vận hành mô hình hệ thống chính trị, chính quyền địa phương 2 cấp.
Về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, toàn hệ thống chính trị đã ban hành 527 văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn thi hành, tạo cơ sở pháp lý bao phủ toàn diện cấu trúc 4 khối để bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, đúng định hướng. Trong đó, khối Đảng có 817 nhiệm vụ (Trung ương 367 nhiệm vụ, cấp tỉnh 198 nhiệm vụ, cấp xã 252 nhiệm vụ); khối Quốc hội, Hội đồng nhân dân có 145 nhiệm vụ (các cơ quan thuộc Quốc hội, Văn phòng Quốc hội 108 nhiệm vụ; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 38 nhiệm vụ; Hội đồng nhân dân cấp xã 30 nhiệm vụ); khối Chính phủ, Ủy ban nhân dân có 8.560 nhiệm vụ (Chính phủ 6.052 nhiệm vụ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 1.570 nhiệm vụ, cấp xã 938 nhiệm vụ); khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện 175 nhiệm vụ (Trung ương 67 nhiệm vụ, cấp tỉnh 47 nhiệm vụ, cấp xã 61 nhiệm vụ).
Về sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức hoạt động, cả nước đã sắp xếp từ 63 tỉnh, thành phố xuống còn 34 tỉnh, thành phố; kết thúc hoạt động của 696 đơn vị hành chính cấp huyện; giảm số đơn vị hành chính cấp xã từ 10.035 xuống còn 3.321, qua đó xác lập quy mô quản trị phù hợp, tối ưu hóa nguồn lực và khơi thông mạnh mẽ dư địa phát triển. Hiện các địa phương tiếp tục triển khai sắp xếp thôn, tổ dân phố theo Kết luận số 34-KL/TW của Bộ Chính trị và quy định của Chính phủ, dự kiến giảm từ 89.580 xuống còn 48.678 đơn vị, giảm 40.902 đơn vị, tương đương 45,66%.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp. Ảnh: Như Ý.
Về công tác cán bộ, tính đến ngày 31/3/2026, cả nước có 519.877 cán bộ, công chức, trong đó Trung ương có 78.984 người, cấp tỉnh 93.696 người và cấp xã 347.197 người. Hệ thống quy định về công tác cán bộ tiếp tục được rà soát, hoàn thiện, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và minh bạch.
Trong cải cách hành chính và chuyển đổi số, khối Đảng hiện có 93 thủ tục hành chính; khối Chính phủ, Ủy ban nhân dân có 5.136 thủ tục hành chính được công khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, gồm 1.595 thủ tục cấp bộ, 2.518 thủ tục cấp tỉnh, 839 thủ tục cấp xã và 184 thủ tục thuộc cơ quan khác. Toàn quốc đã tiếp nhận trên 42,5 triệu hồ sơ, trong đó tỷ lệ nộp trực tuyến đạt 91,74%; tỷ lệ giải quyết đúng hạn duy trì trên 95%; hơn 16,5 triệu hồ sơ được số hóa, đạt gần 95%.
Cùng với đó, 3.466 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm, đơn giản hóa, góp phần giảm 53% thời gian thực hiện và 54,6% chi phí tuân thủ.
Toàn bộ 4 khối hiện có 1.653 nhiệm vụ chuyển đổi số, trong đó cấp Trung ương 1.473 nhiệm vụ, cấp tỉnh 89 nhiệm vụ và cấp xã 74 nhiệm vụ. Hành lang pháp lý tiếp tục được củng cố với Luật Chuyển đổi số năm 2025; hạ tầng mạng 5G phủ sóng 91,9% dân số với trên 23 triệu thuê bao tính đến tháng 5/2026.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị cơ bản được duy trì ổn định, thông suốt, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao niềm tin của người dân đối với bộ máy chính quyền. Mức độ hài lòng của người dân đạt 83,08%; đặc biệt, 89,09% ý kiến ghi nhận không còn tình trạng công chức sách nhiễu, phiền hà.
Trong lĩnh vực quản lý tài chính, tài sản công, các cấp đã quản lý, khai thác hiệu quả tài sản công, khơi thông nguồn lực đất đai; chủ động cân đối ngân sách, bảo đảm nguồn lực thực hiện phân cấp, phân quyền, đồng thời đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và ưu tiên nguồn lực cho chuyển đổi số.
Về phát triển kinh tế - xã hội, việc xóa bỏ sự chia cắt theo địa giới hành chính nhỏ lẻ đã mở ra không gian quy hoạch và phát triển quy mô lớn. Năm 2025, cả nước hoàn thành vượt mức 15/15 chỉ tiêu, đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của cả giai đoạn 2021-2025; tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Theo Ban Chỉ đạo, những kết quả bước đầu đạt được tiếp tục khẳng định chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đồng thời phản ánh quyết tâm chính trị cao, sự đồng thuận của toàn hệ thống chính trị cùng tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tuy đã được ban hành với khối lượng lớn, tương đối đồng bộ nhưng vẫn còn những nội dung cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện khung khổ pháp lý cho mô hình chính quyền 3 cấp vận hành hiệu quả hơn.
Việc sắp xếp bộ máy chưa thật sự đồng đều; số đầu mối giảm nhưng hiệu quả quản trị ở một số nơi, nhất là cấp cơ sở, chưa tăng tương xứng; còn chênh lệch giữa khu vực đô thị, nông thôn và miền núi. Qua thống kê, vẫn còn một số đơn vị hành chính cấp xã chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và quy mô dân số theo quy định.
Chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, cơ cấu chuyên môn còn mất cân đối ở một số vùng, lĩnh vực. Công tác đồng bộ dữ liệu còn chậm, hiện còn 5/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 44/104 cơ sở dữ liệu chưa kết nối, đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia; 62/84 nền tảng số quốc gia, chuyên ngành chưa hoàn thành. Việc quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư công tại một số xã, phường chưa theo kịp yêu cầu; tiến độ xử lý, khai thác hiệu quả trụ sở, tài sản công dôi dư còn chậm.
Ban Chỉ đạo đánh giá, việc sơ kết sau một năm vận hành không chỉ là dịp nhìn lại chặng đường cải cách tổ chức bộ máy mà còn là cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới phương thức quản trị, tháo gỡ khó khăn, bất cập, hoàn thiện mô hình và nâng cao chất lượng vận hành của hệ thống chính trị.
Điểm mới nổi bật của mô hình là đang từng bước hình thành cơ chế vận hành thống nhất, trong đó thể chế là nền tảng; phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền là trụ cột; thủ tục, quy trình là công cụ thực thi; tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức là căn cứ đo lường; nguồn lực là điều kiện bảo đảm; chuyển đổi số và dữ liệu là phương thức điều hành; kiểm tra, giám sát là cơ chế kiểm soát quyền lực và bảo đảm kỷ luật công vụ. Khi cơ chế này vận hành đồng bộ, mô hình chính quyền 3 cấp, chính quyền địa phương 2 cấp sẽ thực sự thông suốt, hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả.
Theo đó, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là chuyển mạnh trọng tâm từ "sắp xếp xong" bộ máy sang "vận hành tốt"; từ "ổn định bộ máy" sang "nâng tầm hiệu quả"; từ "quản lý hành chính" sang "kiến tạo phát triển". Toàn hệ thống tiếp tục đồng bộ hóa thể chế, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác; bảo đảm bộ máy tinh gọn, thông suốt; quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng; hướng mạnh về cơ sở nhằm kiến tạo không gian, động lực phát triển mới, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Trọng tâm là phân định rõ thẩm quyền liên thông theo mô hình 3 cấp: Trung ương kiến tạo thể chế, nền tảng số và giám sát; cấp tỉnh điều phối nguồn lực, liên kết vùng; cấp xã trực tiếp thực thi, quản trị dữ liệu và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thành quả từ mô hình tổ chức mới được kỳ vọng sẽ tạo xung lực mạnh mẽ để đưa nhanh Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống, khơi dậy khát vọng phát triển của dân tộc; tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm: kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước vào năm 2045.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo kết quả
Thay mặt Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo kết quả triển khai mô hình chính quyền hai cấp, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp báo cáo kết quả và đề xuất giải pháp sau một năm triển khai thực hiện mô hình chính quyền mới trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường tại hội nghị.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp báo cáo tại Hội nghị. Ảnh: Như Ý.
Về kết quả triển khai
Thứ nhất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rà soát ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản pháp luật để thực hiện mô hình tổ chức bộ máy các cấp và các Bộ để hạn chế vướng mắc trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Bộ đã chủ động rà soát 1.055 văn bản trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang được phân cấp và rà soát 265 văn bản quy định liên quan đến thủ tục hành chính cấp huyện cần đề xuất phương án xử lý, phân định và phân quyền. Bộ cũng đã thống kê, phân loại và xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và chính quyền địa phương.
Thứ hai, tổ chức bộ máy của Bộ, của ngành sau sáp nhập và sắp xếp đã cơ bản đi vào vận hành thông suốt; vai trò của cấp cơ sở được nâng cao, trở thành cấp hành chính cấp gần dân, trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã sắp xếp, giảm mạnh đầu mối trực thuộc Bộ và tổ chức bên trong. Cụ thể, giảm 45% số lượng đầu mối trực thuộc Bộ , giảm 30% số lượng đơn vị sự nghiệp và giảm mạnh về số lượng đầu mối cấp phòng bên trong của từng đơn vị trực thuộc Bộ.
Đối với hệ thống tổ chức bộ máy của ngành nông nghiệp và môi trường ở địa phương, đã ban hành các văn bản hướng dẫn kịp thời để sắp xếp kiện toàn bộ máy theo mô hình chính quyền hai cấp. Thực hiện nghiêm chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền đặc biệt và của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Bộ đã tổ chức lại hệ thống khuyến nông, đã chủ động kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện tổ chức mô hình toàn quốc để triển khai. Đến nay, 34/34 tỉnh, thành phố đã hoàn thành kiện toàn bộ máy khuyến nông ở địa phương.
Thứ ba, đề xuất phân cấp, phân quyền, cố định thẩm quyền mạnh mẽ, triệt để cho các cấp chính quyền, trong đó có 441 nhiệm vụ và thẩm quyền. Các vấn đề vướng mắc phát sinh đã được Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ giải đáp, hướng dẫn kịp thời. Về cơ bản, Bộ đã thực hiện phân cấp, phân quyền toàn Bộ các nhiệm vụ mà địa phương có khả năng thực hiện. Bộ thực hiện các nhiệm vụ mang tính liên ngành, liên vùng và các nhiệm vụ theo đúng ước, các thỏa thuận quốc tế mà cấp Bộ phải thực hiện.
Thứ tư, quyết liệt trong việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Bộ đã tiếp tục rà soát cắt giảm 83 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ và 119 thủ tục hành chính cấp Bộ . Cắt giảm, đơn giản hóa 355/845 điều kiện kinh doanh, đạt 42%. Bãi bỏ 21/49 ngành nghề kinh doanh không đủ điều kiện đạt 43% và vượt chỉ tiêu 30% mà Chính phủ giao.
Thứ năm, chủ động hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc cho địa phương. Bộ đã thành lập 10 đoàn công tác, phân công các đồng chí lãnh đạo Bộ làm trưởng đoàn, cử 34 công chức về địa phương để hỗ trợ xây dựng sổ tay và tổ chức nhiều hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ cho chính quyền địa phương đặc biệt tại cơ sở.
Thứ sáu, Bộ đã chủ động, nỗ lực cao độ trong triển khai thực hiện chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ . Bộ đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an thực hiện kết nối đồng bộ 2 cơ sở dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cũng đã chính thức được đưa vào vận hành, triển khai xây dựng ứng dụng để tích hợp cơ sở dữ liệu. Sắp tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và đề xuất cho ban hành trong tháng 9 năm nay.
Thứ bảy, Bộ đã nghiêm túc triển khai thực hiện việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công sau sáp nhập. Bộ đã ban hành các quyết định chuyển giao cơ sở nhà đất, nhà đất dôi dư hoặc không còn nhu cầu về địa phương để quản lý và xử lý với số lượng là 198 cơ sở nhà đất và hiện nay đang tiếp tục sắp xếp.
Về hạn chế, vướng mắc
Dù hệ thống pháp luật chuyên ngành đã được rà soát, đã sửa đổi để phục vụ mô hình chính quyền ba cấp, nhưng một số lĩnh vực thì vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn và cần tiếp tục hoàn thiện.
Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong thời gian đầu áp lực rất lớn đối với đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở cấp cơ sở. Chất lượng nguồn lực chưa đồng đều, có nơi còn thiếu cán bộ chuyên sâu, đặc biệt là chuyên môn về nông nghiệp và môi trường. Cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn phân tán, thiếu đồng bộ. Tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai thì còn chưa đáp ứng nhu cầu theo quản lý và vận hành chung.
Về phân cấp và phân định thẩm quyền, Bộ đã tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét phân cấp, phân định thẩm quyền để chính quyền cấp tỉnh quyết định. Tùy theo đặc điểm và tình hình thực tế, chính quyền cấp tỉnh sẽ chủ động phân cấp hoặc ủy quyền cho cơ quan chuyên môn hoặc là chính quyền cấp cơ sở để thực hiện. Điều này tạo sự chủ động, linh hoạt cho chính quyền địa phương.
Về giải quyết thủ tục hành chính, Bộ đã tham mưu chuyển thẩm quyền giải quyết đối với các thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân cũng như là thúc đẩy, đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc.
Đối với những việc trọng tâm, khó, phức tạp, cần huy động nguồn lực lớn để giải quyết trong một thời gian ngắn thì Bộ đã tổ chức phát động các hoạt động các phong trào, các chiến dịch để thực hiện. Ví dụ như là Bộ đã phối hợp với Bộ Công an phát động chiến dịch cao điểm "90 ngày đêm" làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai. Và kết quả là đã hoàn thành làm sạch 62 triệu thửa đất trong 90 ngày.
Về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Một là, tiếp tục quán triệt, triển khai hiệu quả các chủ trương, kết luận, các quy định của Trung ương, của Bộ Chính trị, của Ban Bí thư, của Quốc hội và Chính phủ về mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền ba cấp.
Hai là, tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật về nông nghiệp và môi trường, đảm bảo đồng bộ với mô hình chính quyền ba cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Khẩn trương hoàn thiện các dự án luật như là Luật Đất đai sửa đổi, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi. Đồng thời, luật sửa đổi một số điều của một số luật và các văn bản hướng dẫn để trình các cấp thẩm quyền ban hành trong năm 2026.
Ba là, thường xuyên theo dõi, kịp thời xử lý các vướng mắc của địa phương trong thực hiện phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền và cải cách đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Bốn là, rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ và các cơ quan chuyên môn ở địa phương, nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực thi ở địa phương. Thực hiện tốt công tác đánh giá, sắp xếp và cán bộ, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ, nhất là đội ngũ cán bộ ở cấp cơ sở.
Năm là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu của ngành, kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cổng dịch vụ quốc gia và định danh VNeID. Đối với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Công an để hỗ trợ địa phương hoàn thành và đưa vào vận hành trong năm 2026.
Về đề xuất, kiến nghị
Một là, đề nghị các cấp có thẩm quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện cơ chế vận hành và triển khai xây dựng Bộ tiêu chí như là khung tổ chức bộ máy, biên chế, định mức tiêu chí kỹ thuật, v.v., phù hợp với yêu cầu khối lượng công việc của từng ngành, từng lĩnh vực, đặc biệt là đô thị và nông thôn.
Hai là, đề nghị các địa phương quan tâm sắp xếp, bố trí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở, đảm bảo có chuyên môn và kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm và đáp ứng yêu cầu công việc. Quan tâm bố trí đầy đủ nguồn lực, tập trung xây dựng hoàn thành cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc thẩm quyền của địa phương, nhất là cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, đảm bảo tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống", thống nhất, tập trung, dùng chung và đưa vào vận hành trong năm 2026.
Ba là, chú trọng tổng kết, nhân rộng và lan tỏa các mô hình, các điển hình, hoạt động hiệu quả, sáng tạo; xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đồng bộ với phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền.
















