



Thưa Giáo sư, nhìn lại sự nghiệp đổi mới của đất nước, có thể thấy đây là một quá trình thay đổi toàn diện từ tư duy, nhận thức cho đến thực tiễn. Nếu so sánh với các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như với nhiều nước châu Á có điều kiện tương đồng, thì con đường đổi mới của Việt Nam dường như rất riêng và rất đặc thù, Giáo sư nghĩ sao?
Thực tiễn cho thấy, vào thời điểm Đảng ta phát động công cuộc đổi mới, trên thế giới cũng đang diễn ra làn sóng cải cách, đổi mới. Nghĩa là đổi mới hay cải cách, cải tổ luôn luôn là vấn đề mang tính thời đại. Khi lịch sử đã đạt đến ngưỡng các mô hình cũ bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế, đòi hỏi phải đổi mới. Các quốc gia dù là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đều phải tìm cách thoát khỏi “cái bẫy” của mô hình cũ.
Từ Trung Quốc năm 1978 với quan điểm “mẻo trắng, mèo đen” đến Nhật Bản hay các nước Đông Âu với tên gọi khác là cải tổ. Có quốc gia đổi mới theo “liệu pháp sốc” tức là đổi mới rất nhanh, đập bỏ mô hình cũ và xây dựng lại một cách dứt khoát. Có quốc gia tiệm tiến, từ từ từng bước. Có thành công, có thất bại dẫn đến những hệ lụy đau đớn.
Với Việt Nam, như anh nói, con đường đổi mới của chúng ta rất riêng, có ảnh hưởng thế giới nhưng cơ bản là do chúng ta tự thiết kế.


Mô hình đó vừa cải tạo mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, vừa vận dụng bài học lịch sử của các quốc gia đi trước lại vừa cập nhật những vấn đề mới như vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và biết tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ.
Chính vì vậy, mô hình đổi mới của Việt Nam đã trả lời được rất nhiều câu hỏi khác nhau, đáp ứng được mong muốn của hầu hết các tầng lớp khác nhau trong xã hội. “Người bên trong” thấy những giá trị cũ vẫn được bảo tồn, cải tiến, điều chỉnh tích cực và phù hợp hơn. “Người bên ngoài” thấy Việt Nam đã xây dựng được một nền kinh tế thị trường và họ hoan nghênh, đánh giá rất cao con đường chúng ta đi.
Con đường độc đáo đó, về kinh tế là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về chính trị là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về xã hội đạt được sự đồng thuận cao, luôn mang sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nếu soi chiếu cả về lý luận và thực tiễn, không có nhiều quốc gia trên thế giới có mô hình tương tự Việt Nam. Tôi nghĩ rằng có thể trong tương lai gần chúng ta sẽ có tổng kết, khái quát mô hình mang tên “chủ nghĩa xã hội Việt Nam” và cá nhân tôi muốn nhấn mạnh đó là mô hình chủ nghĩa xã hội hiện đại, mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
Lẽ tất nhiên mô hình đó sẽ còn tiếp tục vận động, phát triển, tiếp tục được tổng kết và bổ sung qua thực tiễn, nhưng bản chất mô hình của chúng ta đã là một mô hình hiện đại.

Thưa Giáo sư, với một mô hình phát triển độc đáo và thành tựu rõ nét của công cuộc đổi mới đất nước hơn 40 năm qua, Giáo sư có thể cắt nghĩa thêm về vai trò, dấu ấn của những cá nhân trong “cuộc cách mạng” đó như thế nào?
Trước hết phải khẳng định đường lối đổi mới là sản phẩm của trí tuệ tập thể và thành tựu đổi mới là của toàn Đảng, toàn dân, tuy nhiên trong đó dấu ấn của cá nhân cũng được thể hiện rất rõ.
Chúng ta biết rằng mong muốn đổi mới đã xuất hiện từ khá sớm. Đại hội IV năm 1976 đã nhận thức được cách tổ chức sản xuất, cách quản lý cũ đang kìm hãm sự phát triển, cần phải tháo gỡ những ràng buộc, gò bó, rào cản ngăn sông cấm chợ… Tuy nhiên thực tiễn quá khó khăn, thậm chí những người tiên phong trong đổi mới như Bí thư Kim Ngọc hay một số lãnh đạo địa phương còn bị xem xét kỷ luật. Phải sau một quá trình đấu tranh rất gay gắt về nhận thức và thực tiễn trong nội bộ Đảng, thì công cuộc đổi mới mới thực sự được khẳng định tại Đại hội VI.
Điều đó cho thấy đổi mới là một quá trình vô cùng khó khăn và vai trò cá nhân lãnh đạo dám làm, dám chịu trách nhiệm đã trở nên đặc biệt quan trọng. Từ Tổng Bí thư Trường Chinh, người vốn rất cẩn trọng nhưng trong thời điểm lịch sử đã có sự lựa chọn rất quyết đoán. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh sau đó đã tạo nên khung sườn cơ bản về thể chế và đường lối đổi mới, để từ đó trở đi, Đảng ta tiếp tục hoàn thiện, bổ sung và phát triển đường lối qua từng nhiệm kỳ.
Đến thời Tổng Bí thư Đỗ Mười là dấu ấn xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch bộ máy, phòng chống tham nhũng… Đặc biệt, dấu ấn của các thế hệ lãnh đạo Đảng đã giúp Đảng hoàn thiện tư duy đổi mới trở thành hệ thống lý luận. Biểu hiện rõ nét trong những nhiệm kỳ gần đây là chúng ta đã gọi tên rõ ràng hơn mô hình phát triển của Việt Nam. Nếu như ngày trước ở đâu đó còn tâm lý dè dặt, chỉ gọi chung chung là mô hình chủ nghĩa xã hội thì ngày nay “mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam” đã được khẳng định rõ ràng.
Tính đặc thù của đường lối phát triển có sự đóng góp to lớn của những người đứng đầu, chèo lái, dẫn dắt đất nước phát triển. Lý luận có tư duy, thực tiễn có hành động, cả lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đều để lại dấu ấn đậm sau trong suốt hơn 40 năm đổi mới và chính sự kết hợp đó đã làm nên thành tựu vĩ đại của đổi mới đất nước.

Thưa Giáo sư, có người nói rằng đổi mới về tư duy là việc khó khăn nhất, bởi vì đó là quá trình tự đấu tranh trong chính chúng ta, trong chính hệ thống của chúng ta. Tư duy cũ dẫn đến những hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí với không ít người còn là cảm nhận con đường đó rất xa xôi, trừu tượng, mơ hồ... Đến những nhiệm kỳ gần đây, con đường đã rộng lớn hơn, mô hình phát triển rõ ràng hơn, góc nhìn của Giáo sư thế nào?
Có người hỏi tôi, nếu con đường của chúng ta đã là xã hội chủ nghĩa rồi thì bây giờ còn xây dựng cái gì nữa?
Tôi thưa rằng, toàn bộ tư duy về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta đã được triển khai thông qua các cương lĩnh, nghị quyết, đường lối, chủ trương và pháp luật… Và điều quan trọng là đã triển khai thành công trong thực tiễn.
Với mô hình cũ, tư duy kế hoạch hóa tập trung thì gần như không có quốc gia nào có thể thực hiện thành công các kế hoạch 5 năm một cách trọn vẹn, kể cả Liên Xô. Nhưng bây giờ, các kế hoạch, mục tiêu do Đại hội Đảng đề ra phần lớn đều thực hiện được. Nghĩa là từ đường lối, chủ trương, chỉ đạo của Đảng đã tạo ra những thành tựu rất cụ thể trong đời sống. Ai quan tâm đến lý luận sẽ thấy chuyển biến của thực tiễn ấy chính là sản phẩm trực tiếp của đường lối đổi mới, là biểu hiện sinh động của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam.


Tôi khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải là điều gì xa xôi hay trừu tượng. Thành tựu của đất nước chúng ta hôm nay chính là bằng chứng với đầy đủ luận chứng, luận cứ đã được hệ thống hóa và gắn với một mô hình xã hội cụ thể.
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có mô hình phát triển khác nhau và giải quyết các vấn đề của đất nước theo cách khác nhau, không nhất thiết phải rập khuôn. Ví dụ nước Mỹ, nguồn lực bảo đảm xã hội của họ dựa rất nhiều vào khu vực tư nhân. Hay nhiều quốc gia khác dựa vào đánh thuế. Nhưng Việt Nam không theo mô hình đó, chúng ta từng bước dựa vào trình độ phát triển của đất nước và cụ thể hóa trong từng chính sách phát triển.
Mô hình của chúng ta không giải quyết vấn đề xã hội bằng những “gói” tức thì mà dựa trên thành quả của phát triển kinh tế. Trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế chúng ta đặt ra và từng bước giải quyết các vấn đề xã hội. Và có thể nói đây chính là tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển nhưng không để ai bị bỏ lại phía sau hay nói theo tinh thần của người Việt là “lá lành đùm lá rách”. Vừa phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc, vừa phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới chính là nét đặc sắc của mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Thưa Giáo sư, sau 40 năm Đổi mới đất nước ta đang đứng trước cột mốc của hành trình phát triển mới. Những bài học đổi mới của lịch sử sẽ có ý nghĩa như thế nào trong kỷ nguyên mới này?
Các bài học đổi mới đã được Đảng ta đúc kết và đưa vào các văn kiện đại hội. Cá nhân tôi luôn quan tâm đến một câu hỏi của các nhà nghiên cứu lý luận và các chính trị gia lớn trên giới khi phân tích bài học thực tiễn của Việt Nam. Rằng nhờ vào đâu mà Việt Nam không thất bại? Đây là một câu hỏi rất đáng suy nghĩ.
Bài học thứ nhất là tính sáng tạo của dân tộc ta, của Đảng ta và bắt nguồn từ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Nhiều người cứ nghĩ cách mạng vô sản, cách mạng xã hội chủ nghĩa thì ở đâu cũng giống nhau, nhưng thực ra trong tư duy và trong thực tiễn của Bác Hồ có rất nhiều nội dung mới, rất phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đó là tính giai cấp và tính dân tộc của Đảng. Thời điểm giành chính quyền, Đảng mới chỉ có khoảng 5.000 đảng viên. Nhờ sự hội tụ, sự kết hợp giữa yếu tố yêu nước và yếu tố cách mạng mà trở thành một lực lượng vừa có tính giai cấp, vừa có tính dân tộc. Đó chính là sự sáng tạo trong đường lối cách mạng, và sau này cũng là một bài học rất lớn cho công cuộc đổi mới đất nước.
Bài học thứ hai, lịch sử đã chứng minh nhiều lần, có thời điểm chúng ta hăng hái đi theo các khuynh hướng khác nhau, lúc “cực tả” khi “cực hữu”, nhưng cuối cùng, bài học lớn nhất là phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Một đảng chính trị sinh ra là để lãnh đạo dân tộc thì lợi ích cao nhất của đảng ấy phải là lợi ích của dân tộc. Nói cách khác nếu không đặt lợi ích dân tộc lên tối thượng thì không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Trong thời đại ngày nay, tất cả các nghị quyết của Đảng đều nhắc nhở về đạo đức cách mạng và cốt lõi của đạo đức cách mạng chính là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Bài học tiếp theo là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã đảm nhận vai trò lãnh đạo duy nhất. Điều này không phải là mong muốn chủ quan mà là kết quả của sự lựa chọn lịch sử. Vấn đề then chốt của then chốt là xây dựng Đảng. Đây không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là một bài học mang tính sư phạm sâu sắc: muốn lãnh đạo xã hội tốt thì trước hết phải giáo dục, rèn luyện chính mình, rèn luyện đội ngũ của mình.
Bài học thứ tư là phát huy được toàn bộ năng lực sáng tạo và phẩm chất của con người Việt Nam, hay nói cách khác là phải thực sự dựa vào dân. Chúng ta nói nhiều đến đoàn kết nhân dân, nhưng đoàn kết không phải là khẩu hiệu, mà phải dựa vào dân một cách thực chất.
Tôi khẳng định điều này trên cơ sở trải nghiệm và nghiên cứu của cá nhân mình. Người Việt Nam thông minh, năng động, sáng tạo, kiên cường và đặc biệt là rất chịu khó. Dĩ nhiên, chúng ta không phủ nhận những hạn chế, những nhược điểm của người Việt Nam, nhưng nói đến đây không phải để phê phán, mà là để nhận diện và phát huy những giá trị tích cực đó.
Hiện nay, dân số Việt Nam đã hơn 100 triệu người. Nếu phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì đó là một nguồn lực vô cùng to lớn bởi sức mạnh của nhân dân luôn sức mạnh lớn nhất, sức mạnh vô địch.
Một bài học nữa mà tôi cho rằng rất quan trọng, đó là chúng ta không thể tồn tại và phát triển nếu tách rời cộng đồng và tách rời thời đại. Bài học của lịch sử, nhất là quá trình đổi mới cho thấy Việt Nam phải hội nhập quốc tế, phải biết trân trọng những giá trị tiến bộ, văn minh của nhân loại, đồng thời phát huy sức mạnh dân tộc. Chỉ khi kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, chúng ta mới có thể phát triển bền vững.


Giáo sư dùng từ rất hay là “phẩm cách Việt Nam”, vậy phẩm cách người Việt, phẩm cách của dân tộc Việt có giá trị và ý nghĩa như thế nào trên hành trình phía trước, thưa Giáo sư?
Có thể nói rằng, 40 năm đổi mới đã trả lời được một câu hỏi rất lớn: Việt Nam có thể làm được gì? Hay nói cách khác đổi mới đã mang lại cho dân tộc ta một sự tự tin sâu sắc về con đường phát triển, về bản lĩnh dân tộc.
Trước đây có thời điểm người ta nghi ngờ Việt Nam không thể làm được việc này, việc kia, không thể làm chủ khoa học kỹ thuật cao, không thể làm toán học hiện đại, không thể chế tạo máy móc, không thể sản xuất được những sản phẩm công nghiệp phức tạp mà phải chờ mua của nước ngoài, phải nhận từ nước khác…
Thực tiễn của đổi mới đã trả lời dân tộc Việt Nam có đủ tự tin để làm được những điều tưởng như không thể. Quan trọng hơn, Việt Nam đã tìm được con đường phát triển của mình, tự thiết kế, tự quyết định vận mệnh đất nước.
Chúng ta có quyền thiết kế một tương lai tươi sáng, tốt đẹp. Một tương lai vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc. Vừa giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, đồng thời tiếp thu một cách chọn lọc những thành tựu văn minh của thế giới, không cực đoan, không khép kín…
Một đích đến rất gần của mô hình chủ nghĩa xã hội mang đậm bản sắc riêng có của Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn.








