Từ kiểm tra lô hàng đến đánh giá cả hệ thống
Liên minh châu Âu (EU) đang chuyển mạnh từ kiểm tra hồ sơ tại biên giới sang quản lý rủi ro xuyên suốt chuỗi cung ứng. Một lô hàng được thông quan tại cửa khẩu EU mới chỉ vượt qua "lớp cửa" đầu tiên.
Muốn hiện diện ổn định trên quầy hàng Pháp, Đức, nông sản Việt Nam còn phải đáp ứng giám sát sau nhập khẩu, yêu cầu của nhà mua hàng và các tiêu chuẩn riêng của hệ thống bán lẻ.
Cách tiếp cận của EU không chỉ dừng ở việc kiểm tra lô hàng có đầy đủ giấy tờ hay không, mà còn truy ngược quá trình sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, sơ chế, đóng gói, vận chuyển và khả năng thu hồi khi xảy ra sự cố.
Theo quy định của EU cập nhật tháng 6/2026, sầu riêng tươi hoặc ướp lạnh của Việt Nam chịu tần suất kiểm tra nhận dạng và kiểm tra thực tế 20% do nguy cơ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Ảnh: Hồng Thắm.
Dữ liệu cảnh báo nhanh, kết quả lấy mẫu, lịch sử vi phạm và độ tin cậy của hệ thống kiểm soát tại nước xuất khẩu đều được sử dụng để xác định mức độ giám sát. Danh mục hàng hóa có nguy cơ cao được EU rà soát ít nhất sáu tháng một lần.
Xu hướng này được đẩy nhanh trong năm 2026. Ngày 26/1/2026, EU thành lập một lực lượng đặc nhiệm tập trung vào an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời tăng cường giám sát một số nhóm sản phẩm nhập khẩu quan trọng. Mục tiêu không chỉ là tăng kiểm tra tại cửa khẩu, mà còn hài hòa cách thực thi giữa các nước thành viên và tăng kiểm tra ngay tại nước xuất khẩu.
Đối với Việt Nam, tín hiệu cảnh báo đã rất cụ thể. Theo quy định của EU cập nhật tháng 6/2026, sầu riêng tươi hoặc ướp lạnh của Việt Nam chịu tần suất kiểm tra nhận dạng và kiểm tra thực tế 20% do nguy cơ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đậu bắp và ớt không ngọt chịu tần suất 50%, thanh long 30%; ba nhóm hàng này thuộc diện áp dụng điều kiện nhập khẩu đặc biệt.
Những tỷ lệ trên không chỉ làm tăng chi phí xét nghiệm và thời gian lưu kho. Vi phạm lặp lại có thể kéo theo kiểm tra tăng cường; trường hợp nghiêm trọng có thể bị tái xuất, tiêu hủy hoặc đình chỉ nhập khẩu. Rủi ro của một doanh nghiệp vì thế có thể nhanh chóng trở thành rủi ro uy tín của cả ngành hàng.
Thông quan EU chưa đồng nghĩa vào được Pháp, Đức
EU là một thị trường chung, nhưng hoạt động giám sát không kết thúc khi hàng hóa rời cửa khẩu. Cơ quan có thẩm quyền của từng quốc gia tiếp tục kiểm tra tại kho hàng, doanh nghiệp nhập khẩu, cơ sở phân phối và điểm bán lẻ.
Tại Pháp, cơ quan cạnh tranh, tiêu dùng và chống gian lận kiểm tra chất lượng, xuất xứ, nhãn hàng và tính trung thực của thông tin đối với rau quả nhập khẩu. Tại Đức, Cơ quan Liên bang về Bảo vệ người tiêu dùng và An toàn thực phẩm phối hợp xây dựng kế hoạch kiểm soát quốc gia, còn việc lấy mẫu, kiểm tra và xử lý vi phạm được thực hiện thông qua hệ thống quản lý của các bang.
Khó hơn nữa là “lớp cửa” của nhà nhập khẩu và hệ thống bán lẻ. IFS Food, tiêu chuẩn do các hiệp hội bán lẻ Đức và Pháp khởi xướng, đánh giá năng lực của nhà sản xuất trong việc tạo ra thực phẩm an toàn, xác thực, đúng chất lượng, phù hợp với pháp luật và yêu cầu riêng của khách hàng.
Cách tiếp cận của EU không chỉ dừng ở việc kiểm tra lô hàng có đầy đủ giấy tờ hay không, mà còn truy ngược quá trình sản xuất. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Đánh giá không báo trước, truy xuất theo lô, quản lý nhà cung cấp và phòng ngừa gian lận ngày càng trở thành những điều kiện thương mại thực tế.
Bởi vậy, hàng hóa đã đáp ứng quy định chung của EU vẫn có thể không được một hệ thống siêu thị tại Pháp hoặc Đức chấp nhận. Nhà bán lẻ có thể yêu cầu chứng nhận vùng trồng, hồ sơ lao động và môi trường, mức dư lượng nội bộ, độ đồng đều, vật liệu bao gói, khả năng cung ứng ổn định và trách nhiệm khi phải thu hồi sản phẩm.
Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp không chỉ bán trái cây, rau quả hay thủy sản. Họ đang bán mức độ tin cậy của cả chuỗi cung ứng.
Chuyển từ “chữa lô hàng” sang quản trị chuỗi
Ứng phó trước hết phải bắt đầu tại vùng sản xuất. Mỗi ngành hàng cần xây dựng bản đồ rủi ro theo thị trường, mùa vụ và hoạt chất; xác định rõ loại thuốc được phép sử dụng, thời gian cách ly, nguy cơ nhiễm chéo và giới hạn dư lượng của EU.
Hướng dẫn kỹ thuật không thể dừng lại ở một quy trình sản xuất chung, mà phải chuyển thành các “gói canh tác cho thị trường EU”, được cập nhật ngay khi châu Âu điều chỉnh mức dư lượng tối đa hoặc thay đổi danh mục hoạt chất.
Mã số vùng trồng cũng chỉ có giá trị khi gắn với nhật ký điện tử, kiểm soát vật tư đầu vào, giám sát nội bộ và trách nhiệm của từng hộ sản xuất. Tình trạng thu gom từ nhiều nguồn rồi hoàn thiện hồ sơ tại cơ sở đóng gói phải được khắc phục.
Một lô hàng cần được truy xuất tới thửa đất, ngày phun thuốc, loại hoạt chất, ngày thu hoạch, cơ sở sơ chế và container vận chuyển. Chuẩn GlobalGAP cũng đặt an toàn thực phẩm, môi trường, sức khỏe người lao động, quy trình sản xuất và truy xuất trong một hệ thống quản trị thống nhất.
Một lô hàng cần được truy xuất tới thửa đất, ngày phun thuốc, loại hoạt chất, ngày thu hoạch, cơ sở sơ chế và container vận chuyển. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Khâu xét nghiệm cần được coi là một bộ phận của hạ tầng xuất khẩu. Việt Nam phải nâng năng lực phòng thử nghiệm theo hướng phát hiện đa dư lượng, lấy mẫu đại diện và liên thông dữ liệu giữa doanh nghiệp, phòng kiểm nghiệm với cơ quan cấp chứng thư.
Không thể để kết quả kiểm tra trong nước xác nhận “đạt”, nhưng hàng sang EU lại bị phát hiện vi phạm do phương pháp lấy mẫu chưa phù hợp, giới hạn phát hiện không tương thích hoặc chỉ kiểm tra một số hoạt chất quen thuộc.
Doanh nghiệp xuất khẩu cũng phải thay đổi cách ký kết hợp đồng. Thay vì chỉ hỏi về giá cả và quy cách, cần yêu cầu người mua cung cấp đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật của từng chuỗi bán lẻ, kế hoạch lấy mẫu, cơ chế cảnh báo và quy trình xử lý khiếu nại.
Với Pháp, hồ sơ cần đặc biệt chặt chẽ về xuất xứ, nhãn bằng tiếng Pháp và tính trung thực của các tuyên bố như “xanh”, “hữu cơ”, “bền vững”. Với Đức, doanh nghiệp phải chuẩn bị cho yêu cầu cao về tính nhất quán, hồ sơ kiểm soát và khả năng chứng minh hành động khắc phục.
Cảnh báo sớm để bảo vệ uy tín quốc gia
Ở cấp quản lý Nhà nước, cần hình thành cơ chế cảnh báo sớm theo từng ngành hàng, kết nối dữ liệu của Hệ thống cảnh báo nhanh về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi của EU, thông báo SPS, kết quả kiểm tra trong nước và phản hồi từ các thương vụ Việt Nam tại châu Âu.
Khi một hoạt chất, cơ sở đóng gói hoặc vùng trồng xuất hiện nguy cơ, biện pháp khoanh vùng phải được thực hiện trước khi hàng rời cảng, thay vì chờ EU cảnh báo rồi mới tổ chức rà soát.
Cần công khai có kiểm soát danh sách cơ sở vi phạm, yêu cầu kế hoạch khắc phục và tạm dừng xuất khẩu đối với đơn vị tái phạm. Kỷ luật thị trường là cần thiết để bảo vệ những doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc và ngăn một số cơ sở yếu kém làm ảnh hưởng tới cả ngành hàng.
Đồng thời, Nhà nước nên hỗ trợ hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ tiếp cận dịch vụ chứng nhận, kiểm nghiệm, truy xuất và bảo hiểm thu hồi sản phẩm thông qua các trung tâm dùng chung. Nếu từng cơ sở nhỏ phải tự đầu tư toàn bộ hệ thống, chi phí tuân thủ có thể trở thành rào cản khiến họ bị loại khỏi chuỗi giá trị xuất khẩu.
Thông quan chỉ là giấy phép bước vào EU. Để đứng vững trên quầy hàng Pháp, Đức, điều quyết định là chất lượng ổn định, truy xuất minh bạch, phản ứng nhanh và uy tín được tích lũy qua từng lô hàng. Khi quản trị tốt từ gốc, tiêu chuẩn cao không chỉ là sức ép. Đó còn là bộ lọc giúp nông sản Việt Nam nâng cao giá trị, xây dựng thương hiệu và hiện diện bền vững tại những thị trường khó tính nhất thế giới.










