Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, từ những ngày phá vây, hội nhập, đến nay Việt Nam đã định hình được không gian, vị thế và sự chủ động chiến lược trên trường quốc tế.
Trong suốt 4 thập kỷ Đổi mới của đất nước, ngoại giao đóng một vai trò hết sức quan trọng. Hành trình từ phá thế bao vây, mở đường hội nhập đến nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường thế giới tạo nên nhiều dấu ấn của ngành ngoại giao. Qua đó, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, Báo Nông nghiệp và Môi trường có cuộc trò chuyện với Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chuyên gia kỳ cựu về đối ngoại của đất nước ta.




Nhìn lại chặng đường gần 40 năm Đổi mới, Đại sứ đánh giá thế nào về vai trò của công tác đối ngoại trong việc phá thế bao vây, mở đường hội nhập và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam?
Cá nhân tôi nghĩ công cuộc Đổi mới của chúng ta có 3 giai đoạn. Thứ nhất là năm 1986, khi chúng ta vẫn còn ở trong nền kinh tế bao cấp và bị bao vây cấm vận. Ở thời điểm này, Đổi mới trong nước trên thực tế là cải cách cơ cấu để không còn bao cấp nhằm phát triển kinh tế, mở cửa hội nhập. Mà muốn mở cửa thì việc đầu tiên đặt ra là phải phá vây.
Có thể thấy từ năm 1986 đến giữa những năm 1990 là giai đoạn phá vây, trong đó có các dấu mốc quan trọng như giải quyết xong vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
Như vậy là lần đầu tiên, vào giữa những năm 1990, Việt Nam đã có quan hệ với tất cả các quốc gia lớn, đồng thời hóa giải được một giai đoạn Đông Nam Á phân cực, đối đầu. Trong đó, việc tham gia ASEAN là bước đầu tiên để ta tham gia vào hội nhập quốc tế, đặc biệt là về kinh tế thương mại với lộ trình giảm thuế dần về gần bằng 0.
Hội nhập và đối ngoại của Việt Nam giai đoạn này có hai chủ trương quan trọng. Một là chuyển từ bạn - thù thành đối tác. Tức là trong quan hệ quốc tế, ta mở cửa với tất cả các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau. Đây là chủ trương rất lớn.
Thứ hai là trong hội nhập, ta nhấn vào hội nhập kinh tế quốc tế đầu tiên, nên từ đó mới mở ra quan hệ với Mỹ, quan hệ với ASEAN và với các nước có chế độ chính trị khác nhau và có hội nhập kinh tế.
Giai đoạn thứ hai (từ năm 1995 đến trước 2010) là bước phát triển làm sâu sắc thêm các mối quan hệ, và bắt đầu từ hội nhập kinh tế mở dần ra hội nhập trên các lĩnh vực khác.
Sau khi tham gia ASEAN, chúng ta thiết lập quan hệ đối tác với các nước, ký Hiệp định thương mại song phương với Mỹ (BTA) và gia nhập WTO. Những sự kiện đó cho thấy chúng ta tham gia đầy đủ hơn về kinh tế và bên cạnh đó bắt đầu từng bước vào các lĩnh vực khác nhau trong hội nhập quốc tế.
Giai đoạn thứ ba là tham gia sâu rộng hơn trên tất cả các lĩnh vực, bắt đầu tham gia sâu hơn vào các cơ chế lãnh đạo của các tổ chức quốc tế và khu vực.


Vậy từ góc độ ngoại giao, ông nhìn nhận thế nào về sự đổi thay, về thành tựu mà Việt Nam đã đạt được sau 4 thập kỷ qua?
Nhìn lại 40 năm Đổi mới, chúng ta đã phá vây để có mối quan hệ với tất cả các nước, gồm các nước trong khu vực và các nước lớn; xây dựng khuôn khổ đối tác từ toàn diện đến chiến lược và chiến lược toàn diện với hơn 40 quốc gia. Trong đó, nâng cấp quan hệ ở mức cao nhất - Đối tác chiến lược toàn diện - với các nước trong khu vực và các ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an.
Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế nâng cấp từ chiều rộng đến chiều sâu, đặc biệt là có 17 FTA song phương và đa phương với hơn 60 đối tác chủ chốt nhất về kinh tế của Việt Nam, trong đó có nhiều FTA chất lượng cao.
Nhìn tất cả những điều này, chúng ta thấy một bức tranh rất khác. 4 thập kỷ, Việt Nam từ một nước nghèo, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, cô lập đã trở thành quốc gia có mức phát triển trung bình, được thế giới và khu vực đánh giá cao.
Chúng ta có thể thấy điều này qua một vài con số. Khi bắt đầu Đổi mới, GDP của chúng ta chưa đầy 20 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người dưới 100 USD, thì đến nay GDP chúng ta đã vượt mốc 510 tỷ USD, kim ngạch thương mại năm 2025 đạt khoảng 920 tỷ USD, thể hiện rõ độ mở và mức độ hội nhập kinh tế.
Điều này tạo ra tâm thế mới cho Việt Nam trên trường quốc tế. Nếu không có Đổi mới, chúng ta không thể thay đổi tư duy về hội nhập quốc tế, nếu không có Đổi mới chúng ta không có nền tảng kinh tế - chính trị để hội nhập sâu rộng.


Mặt khác, chính hội nhập và mở cửa đã tạo ra nguồn lực rất lớn cho đất nước. Không chỉ tính bằng tiền, bằng vật chất mà môi trường chiến lược của Việt Nam bây giờ rất khác. Chúng ta quan hệ với các nước lớn, các nước khu vực tạo ra không gian chiến lược thuận lợi cho cả hòa bình, an ninh, phát triển, thuận lợi cho vị thế của Việt Nam.
Chúng ta đan xen lợi ích và có mạng lưới FTA giúp không gian phát triển kinh tế lớn hơn. Bên cạnh đó, sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam thu hút các nước đến đầu tư, giúp chúng ta trở thành một phần trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Đó là cái lớn nhất của Đổi mới và hội nhập quốc tế đem lại.




Có thể thấy, đó là những kết quả rất rõ rệt của Đổi mới, vậy trong quá trình đó, Đại sứ đánh giá đâu là bước ngoặt, tạo ra cột mốc để Việt Nam kết nối, chính thức mở cửa với thế giới?
Sự kiện đầu tiên Việt Nam được công nhận trên trường quốc tế, là việc chúng ta gia nhập Liên Hợp Quốc năm 1977. Nhưng vào thời điểm đó, đây mới chỉ là sự công nhận về mặt pháp lý và chính trị.
Về hội nhập, theo cá nhân tôi, bước đầu tiên phải tính đến 3 việc. Một, tham gia FTA của khu vực khi vào ASEAN. Hai, cao hơn là ký BTA với Mỹ. Và ba, chốt lại giai đoạn đầu của hội nhập kinh tế một cách đầy đủ là tham gia WTO năm 2007.
Giai đoạn thứ hai là khi chúng ta hội nhập sâu rộng hơn về kinh tế bằng việc tham gia các hiệp định như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vào khoảng năm 2019 - 2020.
Sở dĩ nói như vậy vì đây là cuộc chơi rất lớn, đòi hỏi không chỉ tham gia vào phân khúc thương mại tiêu chuẩn chất lượng cao mà kèm theo đó còn phải cải cách nội luật trong nước.


Câu chuyện không chỉ ở việc đàm phán, thương lượng để tham gia các FTA mà là mục tiêu phát triển đất nước đã song trùng với các định hướng quốc tế, tức là nền kinh tế không còn ở mức độ thấp nữa.
Nếu như trước đây khi nói đến hội nhập, chúng ta còn lo ngại ngành sản xuất trong nước bị bóp nghẹt thì sau khi hội nhập về chiều rộng, chúng ta đã có thể nâng cao mức độ của nền kinh tế và tham gia vào chiều sâu.
Bên cạnh đó, tư duy cũng thay đổi từ "hòa nhập nhưng không hòa tan" sang tư duy tự tin vào năng lực nội tại để bước vào cuộc chơi mới. Câu chuyện hội nhập kinh tế qua 2 dấu mốc đó cho thấy Đổi mới mang đến cả tư duy chiến lược mới, ổn định và sức mạnh chính trị mới cũng như năng lực mới của nền kinh tế để Việt Nam dám chơi cuộc chơi mới.


Đất nước ngày càng phát triển, đời sống của người dân Việt Nam ngày càng nâng lên, cũng như vị thế của chúng ta trên trường thế giới. Trước một giai đoạn mới hội tụ nhiều yếu tố tiềm năng, cả bên trong và bên ngoài, Đại sứ suy nghĩ thế nào về hành trình phát triển đất nước thời gian tới?
Nền tảng 40 năm Đổi mới đã đem đến cho đất nước một tâm thế mới, năng lực mới, cả về mặt chính trị, an ninh, quốc phòng lẫn kinh tế đủ vững bước tự tin, cùng vị thế mới trên quốc tế. Bốn thập kỷ Đổi mới đã tạo bàn đạp, tạo đà để bước sang giai đoạn mới, thì đến nay, mục tiêu cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới giờ đã rất khác.

Việt Nam trong giai đoạn mới bắt buộc phải bứt phá để trở thành nước phát triển cao. Điều này yêu cầu những chuyển đổi trong nước bao gồm tái cấu trúc quản trị quốc gia, tái cấu trúc mô hình tăng trưởng và nâng tầm đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên xác định “đối ngoại, hội nhập quốc tế” đặt ngang hàng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, đồng thời đặt ra yêu cầu “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”.
Đối ngoại hiện nay được nâng tầm cùng với quốc phòng và an ninh để trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tức là gắn được với 2 nhiệm vụ song song gồm: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường thuận lợi cho hòa bình và an ninh đồng thời vẫn tranh thủ được cho phát triển.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, các vấn đề không còn thuần túy đơn lẻ, một chính sách thuế quan hay vấn đề nhập cư bất hợp pháp cũng có thể mang tính chất chính trị và an ninh, một động thái cũng tiềm ẩn rủi ro, thách thức do cọ sát giữa các nước quá lớn.
Vì vậy, công tác đối ngoại phải tiên phong, dự báo các nguy cơ về kinh tế và an ninh khi thế giới chuyển động nhanh và dồn dập, bất ngờ. Đồng thời, chủ động tranh thủ thời cơ phát triển, đặc biệt là trong các lĩnh vực phức tạp như công nghệ và thương mại, đòi hỏi sự nhất quán trong toàn bộ hệ thống, từ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước đến đối ngoại nhân dân; sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp.
Khi bước vào kỷ nguyên mới, chủ trương chuyển từ tư thế "tham gia và tranh thủ" sang "đồng hành, kiến tạo" có ý nghĩa rất quan trọng.
Thế giới ngày càng phức tạp, rủi ro tiềm ẩn trong hợp tác công nghệ, thương mại, hay những vấn đề trước đây vốn có sự đồng thuận như biến đổi khí hậu giờ cũng phân tách, nên chúng ta phải đồng kiến tạo được môi trường thuận lợi cho hòa bình, an ninh và ổn định hợp tác và phát triển để phục vụ lợi ích quốc gia, đồng thời kiến tạo cơ hội phát triển.
Thời gian vừa qua thế giới đã bộc lộ những khoảng trống, hoặc lạc hậu về quản trị toàn cầu, đơn cử như khi dịch bệnh Covid bùng phát, quản trị toàn cầu, khu vực quốc gia đều tê liệt. Các thách thức khác bao gồm những cuộc xung đột hiện tại, các cơ chế hiện có chưa đủ năng lực.


Vì vậy, trong thời đại mới, chúng ta cũng phải tham gia kiến tạo quản trị toàn cầu, cải tổ các tổ chức quốc tế, thúc đẩy các hợp tác. Đặc biệt, khi chủ nghĩa đa phương và luật pháp quốc tế bị xói mòn, các nước vừa và nhỏ sẽ gặp bất lợi nên Việt Nam rất cần củng cố những giá trị cũng như trong các lĩnh vực mới chưa có quy tắc như trí tuệ nhân tạo (AI)…
Cuối cùng, để đối ngoại thời kỳ mới xứng với tầm vóc văn hóa, lịch sử và vị thế đất nước, chúng ta phải chủ động tham gia vào 3 nền tảng: Chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại.
Chúng ta vẫn nói kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Để kết hợp được sức mạnh thời đại, chúng ta phải đặt mình vào dòng chảy chính của thời đại.
Điều này bao gồm việc bắt kịp các xu thế lớn của thời đại đặc biệt là sự thay đổi mô hình phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo và công nghệ. Tận dụng tốt điều này, cùng với nội lực trong nước có thể rút ngắn khoảng cách nhiều hơn.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần tuân thủ và đóng góp vào các giá trị phổ quát của nhân loại như Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế, dân chủ và pháp quyền, đồng thời giữ vững các giá trị riêng của hệ thống chính trị Việt Nam.
Kỷ nguyên mới phải có tâm thế mới, tự tin mới. Thế giới đang náo loạn càng phải không để mất thế chủ động chiến lược.
Ông có thể làm rõ hơn về thế chủ động chiến lược của Việt Nam thời gian qua?

Chủ động chiến lược là mở rộng mạng lưới đối tác để không bị phụ thuộc quá mức vào một thị trường nào. Khi các nước lớn cạnh tranh, mình phải đan xen lợi ích để ai cũng thấy cần mình mà mình không bị kẹt vào cuộc chơi của họ.
Chúng ta không thể không chơi với hai thị trường lớn là Mỹ và Trung Quốc (chiếm gần một nửa GDP thế giới), nhưng phải lèo lái để không rơi vào bẫy cạnh tranh. Đồng thời, phải đa dạng hóa quan hệ với các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc để giảm sức ép. Cũng như đẩy mạnh vai trò của ASEAN thay vì chỉ dừng lại ở việc liên kết hàng hóa và giảm thuế quan thuần túy.
Một ASEAN mạnh mẽ và ổn định sẽ tăng sức hấp dẫn đầu tư cho cả khu vực và tạo điểm tựa cho kinh tế Việt Nam. Về vị thế hiện tại, Việt Nam đang có một bức tranh đối ngoại tốt khi không bị kẹt với bên nào trong các xung đột quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục nâng tầm vị thế trong năm 2025 và những năm tiếp theo.
Xin cảm ơn ông!




