Điện Biên đang từng bước chuẩn bị các điều kiện để nghiên cứu, phát triển tín chỉ các-bon rừng. Với diện tích rừng tự nhiên lớn, tỉnh cực Tây của Tổ quốc có nền tảng khá thuận lợi, tuy nhiên để tiềm năng rừng có thể chuyển thành giá trị trên thị trường các-bon cần đồng thời giữ rừng, hoàn thiện dữ liệu và nâng cao nhận thức của cộng đồng trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng.
Rừng tự nhiên mở ra dư địa các-bon
Theo số liệu hiện trạng rừng đến ngày 31/12/2025, tỉnh Điện Biên có 438.178ha rừng, độ che phủ đạt 45,52%. Trong đó, rừng tự nhiên đạt 427.758ha, chiếm khoảng 97,6% diện tích rừng toàn tỉnh Điện Biên.
Rừng tự nhiên ở Điện Biên là nguồn tài nguyên quan trọng trong giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ, lưu giữ các-bon. Ảnh: Trần Hương.
Diện tích rừng tự nhiên lớn là lợi thế để Điện Biên nghiên cứu các dự án giảm phát thải, hấp thụ và lưu giữ các-bon. Tại hội thảo về thị trường tín chỉ các-bon rừng đầu tháng 8 vừa qua, tỉnh Điện Biên được đánh giá có thể nghiên cứu một số hướng như REDD+, trồng rừng mới, cải thiện quản lý rừng và nông lâm kết hợp.
Bên cạnh diện tích rừng hiện có, Điện Biên còn khoảng 154.000ha đất lâm nghiệp được đánh giá có tiềm năng cho trồng rừng, nông lâm kết hợp và những loại hình dự án các-bon phù hợp. Đây là dư địa để tỉnh Điện Biên tiếp tục rà soát, lựa chọn những khu vực đáp ứng yêu cầu của từng loại hình dự án.
Tuy nhiên, diện tích rừng lớn không đồng nghĩa với việc địa phương có ngay một lượng tín chỉ các-bon tương ứng. Để hình thành tín chỉ, dự án phải đáp ứng các yêu cầu về quyền quản lý, sử dụng đất và rừng, ranh giới, dữ liệu, phương pháp tính toán, đo đạc, báo cáo và thẩm định.
Bà Chu Thị Thanh Xuân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên cho biết: Tài nguyên rừng là một trong những lợi thế quan trọng của tỉnh Điện Biên. Khi nghiên cứu thị trường các-bon, với hơn 438.000ha rừng, trong đó phần lớn là rừng tự nhiên, Điện Biên có nền tảng để nghiên cứu các dự án giảm phát thải và lưu giữ các-bon.
Theo bà Xuân, tỉnh Điện Biên đang ở giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện để từng bước hình thành và triển khai các dự án tín chỉ các-bon rừng. Trước mắt, địa phương cần tiếp tục hoàn thiện dữ liệu về rừng, đất lâm nghiệp, hiện trạng, ranh giới và chủ thể quản lý. Cùng với đó là đánh giá những loại hình dự án phù hợp với điều kiện thực tế.
Điện Biên cũng có nền tảng từ việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Năm 2025, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Điện Biên thu 275,949 tỷ đồng. Khoảng 250 tỷ đồng được chi trả cho gần 8.000 chủ rừng, với hơn 400.000ha rừng cung ứng dịch vụ, tương đương trên 91% diện tích rừng toàn tỉnh Điện Biên.
Cơ chế này giúp người dân từng bước nhận thức rõ hơn về giá trị kinh tế gắn với bảo vệ rừng. Tuy nhiên, tín chỉ các-bon vẫn là lĩnh vực mới. Vì vậy, để tham gia thị trường, Điện Biên không chỉ cần diện tích rừng mà còn cần dữ liệu đủ tin cậy, xác định rõ chủ thể quản lý và lựa chọn được những khu vực có khả năng đáp ứng yêu cầu của dự án.
Hội thảo “Thị trường tín chỉ các-bon rừng và cơ hội với Điện Biên” được tổ chức tại tỉnh Điện Biên. Ảnh: Đức Quyền.
Một trong những điểm nghẽn hiện nay là dữ liệu về rừng và đất lâm nghiệp. Báo cáo đánh giá tiềm năng dự án các-bon rừng cho thấy tỉnh Điện Biên chưa có đầy đủ số liệu phân loại trạng thái rừng tự nhiên theo các nhóm giàu, trung bình, nghèo, nghèo kiệt và phục hồi. Khoảng 68,8% số xã sau sáp nhập chưa được đo đạc bản đồ địa chính đất lâm nghiệp tính đến giữa năm 2025.
Hoàn thiện dữ liệu vì vậy là bước quan trọng. Khi diện tích, ranh giới và chủ thể quản lý được xác định rõ, địa phương mới có cơ sở tính toán lượng giảm phát thải, xây dựng dự án và bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia.
Từ giữ rừng đến tín chỉ các-bon
Tại xã Mường Phăng, câu chuyện tín chỉ các-bon bắt đầu từ công việc gần gũi nhất với người dân là giữ rừng. Rừng không chỉ cung cấp nguồn nước, duy trì môi trường sống mà còn có khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon. Vì vậy, bảo vệ diện tích rừng hiện có là nền tảng để hướng tới những giá trị mới từ thị trường các-bon.
Ông Bạc Cầm Quốc Thành, Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã Mường Phăng, Hạt Kiểm lâm Điện Biên Phủ chia sẻ: Bảo vệ rừng là công việc thường xuyên, cần sự phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương và người dân. Người dân sống gần rừng là lực lượng trực tiếp tham gia bảo vệ tài nguyên, góp phần duy trì khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
“Muốn giữ rừng lâu dài thì ngoài lực lượng chuyên môn, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng vẫn là yếu tố quyết định”, ông Thành nói.
Từ thực tế địa bàn, ông Thành cho rằng việc bảo vệ rừng cần gắn với lợi ích lâu dài của người dân. Khi cộng đồng hiểu giá trị của rừng và thấy rõ trách nhiệm của mình, việc giữ rừng sẽ chủ động hơn. Đây cũng là cơ sở để người dân tiếp cận với những giá trị mới, trong đó có giá trị các-bon.
Ở góc độ người trực tiếp tham gia giữ rừng, anh Lò Văn Tính (bản Yên, xã Mường Phăng), cho biết: Người dân trong bản gắn với rừng từ lâu. Rừng có vai trò đối với nguồn nước, môi trường sống và sinh kế. Vì vậy, giữ rừng cũng là bảo vệ những giá trị thiết thực đối với cuộc sống của cộng đồng.
Theo anh Tính, người dân quan tâm đến những lợi ích lâu dài từ rừng. Nếu việc bảo vệ rừng vừa góp phần giữ môi trường sống, vừa tạo thêm giá trị kinh tế thì cộng đồng sẽ có thêm động lực tham gia.
“Nếu việc giữ rừng tốt vừa bảo vệ được nguồn nước, môi trường sống, vừa có thêm giá trị kinh tế thì người dân chắc chắn quan tâm. Nhưng bà con muốn biết rõ nguồn thu đó hình thành như thế nào, ai được hưởng và người dân phải làm những gì”, anh Tính chia sẻ.
Cây mắc ca vừa tạo sinh kế cho người dân, vừa góp phần tăng khả năng hấp thụ, lưu giữ các-bon, mở ra hướng phát triển lâm nghiệp bền vững. Ảnh: Trần Hương.
Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với quá trình tuyên truyền về tín chỉ các-bon. Người dân cần hiểu rằng tín chỉ không phải khoản thu tự động phát sinh từ diện tích rừng. Để một lượng giảm phát thải có thể được xác định và chuyển thành tín chỉ được công nhận, dự án phải trải qua quá trình xây dựng, đo đạc, tính toán, báo cáo và thẩm định.
Vì vậy, nâng cao nhận thức cộng đồng không chỉ dừng ở việc giải thích khái niệm các-bon. Người dân cần được tiếp cận thông tin về cách thức dự án được triển khai, trách nhiệm của chủ rừng và cộng đồng, cũng như cơ chế chia sẻ lợi ích khi dự án đủ điều kiện.
Bên cạnh bảo vệ rừng tự nhiên, Điện Biên có thể nghiên cứu một số mô hình nông lâm kết hợp gắn với giảm phát thải. Tỉnh Điện Biên định hướng đến năm 2030 phát triển khoảng 40.000ha mắc ca và 20.000ha cà phê. Một số vùng trồng xen có thể được nghiên cứu theo hướng tạo giá trị các-bon khi đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Tuy nhiên, các mô hình này cũng cần được đánh giá dựa trên điều kiện cụ thể về đất đai, ranh giới, dữ liệu và khả năng đáp ứng yêu cầu của dự án. Việc mở rộng diện tích sản xuất không đồng nghĩa tự động tạo ra tín chỉ các-bon.
Bà Chu Thị Thanh Xuân cho rằng : Cùng với hoàn thiện dữ liệu và các điều kiện kỹ thuật, Điện Biên cần chú trọng nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, chủ rừng và cộng đồng. Người dân cần hiểu đúng về giảm phát thải, tín chỉ các-bon, quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia.
Đây là điều kiện quan trọng để quá trình phát triển tín chỉ các-bon đi đúng hướng. Khi người trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng hiểu được giá trị của tài nguyên và cơ chế hình thành tín chỉ, họ sẽ có cơ sở chủ động hơn trong bảo vệ rừng và tham gia các chương trình phù hợp.
Với hơn 438.000ha rừng, trong đó phần lớn là rừng tự nhiên, Điện Biên có lợi thế để nghiên cứu những giá trị mới từ tài nguyên rừng. Song, từ tiềm năng đến tín chỉ là một quá trình cần chuẩn bị bài bản.
Giữ được rừng là điều kiện nền tảng. Có dữ liệu tin cậy là cơ sở để tính toán. Cộng đồng hiểu và tham gia là yếu tố để giá trị các-bon từ rừng có thể được hình thành, quản lý minh bạch và đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải của Điện Biên.




























