Thứ Ba 04/08/2026, 10:44 (GMT+7)
Thứ Ba 04/08/2026, 10:44 (GMT+7)

Trung Quốc, Mỹ phê duyệt, EU và Nhật Bản hậu kiểm mã số vùng trồng

Theo Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt, các thị trường nhập khẩu áp dụng 2 cơ chế công nhận mã số vùng trồng: trực tiếp phê duyệt và chấp nhận danh sách do Việt Nam gửi.

Được cấp mã số vùng trồng thường được xem là "tấm vé thông hành" để nông sản bước vào thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn như vậy.

Với nhiều thị trường, mã số chỉ có giá trị khi được chính cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu chấp thuận hoặc phê duyệt. Đây cũng là điểm mấu chốt được Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật làm rõ tại Hội nghị Triển khai Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sáng 4/8.

Thủ tục cấp mã số vùng trồng trên cổng dịch vụ công quốc gia. Ảnh chụp màn hình.

Thủ tục cấp mã số vùng trồng trên cổng dịch vụ công quốc gia. Ảnh chụp màn hình.

6 thị trường tự phê duyệt mã số vùng trồng

"Mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu là yêu cầu gắn với quy định kiểm dịch thực vật và điều kiện nhập khẩu của từng quốc gia", Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt nêu và nhấn mạnh, việc mã số đó có được sử dụng để xuất khẩu hay không còn phụ thuộc vào quy định và cơ chế công nhận của từng thị trường.

Bài liên quan

Với một số thị trường, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu trực tiếp xem xét, phê duyệt hoặc công nhận mã số vùng trồng do Việt Nam đề xuất. Danh sách này gồm những thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc đối với một số mặt hàng.

Trong các trường hợp này, phía Việt Nam chỉ thực hiện việc rà soát, lập hồ sơ và gửi danh sách; quyền quyết định cuối cùng thuộc cơ quan quản lý của nước nhập khẩu.

Điều này đồng nghĩa một vùng trồng dù đã được cấp mã trong nước vẫn chưa thể xuất khẩu nếu chưa hoàn thành quy trình đánh giá hoặc chưa được phía nhập khẩu phê duyệt. Tùy từng thị trường, việc đánh giá có thể được thực hiện thông qua hồ sơ kỹ thuật, kiểm tra trực tuyến hoặc cử đoàn chuyên gia sang kiểm tra thực địa trước khi chấp thuận mã số.

Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường khác áp dụng cơ chế linh hoạt hơn. Theo ông Đạt, các thị trường như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Australia, New Zealand, Chile, Thái Lan... cơ bản chấp nhận danh sách mã số do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận, đồng thời thực hiện hậu kiểm hoặc giám sát trong quá trình nhập khẩu.

Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt chỉ rõ các thị trường tự phê duyệt mã số vùng trồng. Ảnh: Bảo Thắng.

Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt chỉ rõ các thị trường tự phê duyệt mã số vùng trồng. Ảnh: Bảo Thắng.

Với nhóm thị trường này, thủ tục công nhận thường đơn giản hơn, song yêu cầu duy trì điều kiện của vùng trồng vẫn được kiểm soát chặt chẽ.

Sự khác biệt này cho thấy mã số vùng trồng không phải một "giấy phép chung" có thể sử dụng cho mọi thị trường. Mỗi quốc gia xây dựng quy trình quản lý riêng dựa trên yêu cầu kiểm dịch, an toàn sinh học và khả năng truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, cùng một mã số nhưng có thị trường chấp nhận ngay, có thị trường yêu cầu thẩm định, cũng có thị trường chưa công nhận đối với một số loại nông sản.

Việc làm rõ cơ chế công nhận mã số có ý nghĩa thực tiễn đối với cả địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Với địa phương, cấp mã số không phải là điểm kết thúc mà là bước khởi đầu của quá trình duy trì điều kiện sản xuất, ghi chép, kiểm soát dịch hại và truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu của từng thị trường.

Với doanh nghiệp xuất khẩu, việc nắm rõ cơ chế công nhận của từng nước giúp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, chuẩn bị hồ sơ và phối hợp với cơ quan quản lý, tránh tình trạng ký kết hợp đồng khi mã số chưa được phía nhập khẩu chấp thuận.

Đối với người sản xuất, điều quan trọng không chỉ là được cấp mã mà còn là duy trì các điều kiện để mã số tiếp tục đáp ứng yêu cầu của thị trường. Nếu vi phạm quy định hoặc không bảo đảm các điều kiện kỹ thuật, mã số có thể bị tạm dừng hoặc thu hồi, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xuất khẩu của cả vùng trồng.

Đại diện Cục Chuyển đổi số hướng dẫn thủ tục về mã số vùng trồng trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Ảnh: Bảo Thắng.

Đại diện Cục Chuyển đổi số hướng dẫn thủ tục về mã số vùng trồng trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Ảnh: Bảo Thắng.

Thủ tục toàn trình trên môi trường số

Nếu trước đây việc cấp mã số vùng trồng chủ yếu được nhìn nhận như một thủ tục hành chính, thì quy trình điện tử mới cho thấy cách tiếp cận đã thay đổi. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, cùng là cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, nhưng hồ sơ được phân tách ngay từ đầu theo mục đích sử dụng và yêu cầu của từng trường hợp, thay vì áp dụng một quy trình chung.

Theo hướng dẫn, người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chỉ thực hiện thủ tục trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia bằng tài khoản VNeID. Sau khi lựa chọn địa phương thực hiện, hệ thống sẽ tự động chuyển hồ sơ đến đúng cơ quan chuyên môn của cấp xã để xử lý, thay cho việc người dân phải xác định cơ quan tiếp nhận hoặc nộp hồ sơ qua nhiều đầu mối khác nhau.

Hệ thống không gộp tất cả hồ sơ vào một quy trình duy nhất. Các nhóm thủ tục được thiết kế riêng, bao gồm cấp mới, cấp lại, bổ sung thị trường xuất khẩu đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Việc phân loại này không chỉ giúp cơ quan quản lý xác định đúng quy trình xử lý, mà còn phản ánh sự khác biệt giữa quản lý vùng trồng phục vụ sản xuất trong nước và vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Cấp mã số vùng trồng là mong muốn của bà con nông dân trong sản xuất tập trung. Ảnh: Ngọc Thắng.

Cấp mã số vùng trồng là mong muốn của bà con nông dân trong sản xuất tập trung. Ảnh: Ngọc Thắng.

Sự khác biệt thể hiện rõ ở thời hạn giải quyết. Hồ sơ cấp mã số vùng trồng phục vụ sản xuất trong nước được xử lý trong 3 ngày làm việc, hồ sơ cấp lại còn 2 ngày. Trong khi, hồ sơ phục vụ xuất khẩu có thời hạn 10 ngày do phải thực hiện thêm các bước thẩm định, đánh giá thực địa và kiểm tra điều kiện đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu trước khi ban hành kết quả. 

Một điểm mới khác là người nộp hồ sơ cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu bắt buộc phải khai báo thị trường xuất khẩu ngay trong đơn đăng ký. Quy định này có ý nghĩa lớn bởi khi xác định ngay từ đầu nông sản sẽ hướng đến thị trường nào, cơ quan chuyên môn có cơ sở áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, tiêu chí đánh giá và cơ chế công nhận tương ứng với từng nước nhập khẩu.

Điều này cũng tránh tình trạng cấp một mã số nhưng kỳ vọng có thể sử dụng cho mọi thị trường, trong khi mỗi quốc gia lại có yêu cầu và quy trình chấp thuận khác nhau.

Tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36 thực hiện quy định mới về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói diễn ra sáng 4/8, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cũng xác định 4 địa phương trọng điểm gồm Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Ngãi sẽ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai chiến dịch cao điểm, hỗ trợ về các thủ tục liên quan đến mã số vùng trồng.

Tin liên quan

Tin tức