Phương - Phương và khát vọng 'chè búp tím'

Dương Đình Tường - Thứ Ba, 03/03/2026 , 08:23 (GMT+7)

Dăm năm trước khi lên Đèo Mương, xã Thu Ngạc cũ, tỉnh Phú Thọ tôi được mời chén trà vàng sóng sánh, chát nhẹ, sau mấy lần châm nước vẫn đậm đà, ngọt hậu.

Từ nguy cơ bị tuyệt diệt

Hỏi ra mới biết đó là chè búp tím, một giống bản địa, ngoài uống chơi còn được người Mường nơi đây coi là vị thuốc. Xưa chè búp tím mọc rải rác trên những triền đồi ở Đèo Mương, có những cây to như cái phích nhưng về sau do không cho hiệu quả kinh tế nên bà con chặt dần để trồng quế, trồng keo, giờ chỉ còn rất ít, phần lớn là tái sinh từ những gốc bị phá bỏ.

Thế rồi, tôi nghe chuyện về một cô gái ở xã Thanh Ba tỉnh Phú Thọ đã bỏ biết bao công sức, tiền của ra để khôi phục vùng trồng chè búp tím ở quê mình, biến nó thành sản phẩm OCOP 5 sao nên đầu năm 2026 liền tìm đến.

Đã lâu không trở lại Thanh Ba, vùng đất trung du rừng cọ đồi chè nghèo khó thủa nào nay đã thay da đổi thịt. Tôi men theo con đường đất dẫn lên đồi chè rộng tới 7 ha trong đó có 2 ha chè búp tím 5 năm tuổi của vợ chồng ông bà Nguyễn Khang Ninh và Trần Thị Hậu. Ở một quả đồi khác, giữa bạt ngàn những cây chè búp xanh được cắt bằng máy gọn gàng, rải rác có một vài cây chè búp tím cỡ 40 năm tuổi mọc cao vút lên với cành lá để tự nhiên.

Thì ra, năm 1980, sau khi đi bộ đội về, ông Ninh đã mượn một vạt đồi hoang để vỡ đất trồng sắn rồi đợi vụ sau sạch cỏ thì đào hố trồng chè với giống tự ươm bằng hạt xin được ở các nông trường, trong đó có lẫn chừng 20 cây chè búp tím. Búp tím hay búp xanh ông cũng không mấy quan tâm bởi quan niệm nó cũng chỉ là chè bình thường. Có một lần ông chủ ý hái riêng chè búp tím sao khô được vài lạng rồi pha mời những người làm thuê cùng uống. Vị của chè búp tím chát nhẹ, ngọt hậu, uống quen vài ngày lại thấy các loại chè khác hình như nhạt nhẽo.

Lê Thị Hồng Phương - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà Ut (trái) cùng bà Trần Thị Hậu trên đồi chè. Ảnh: Dương Đình Tường.

Chuyện tưởng chỉ dừng lại ở đấy cho đến 10 năm trước, khi TS Nguyễn Thị Minh Phương ở Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm Miền núi phía Bắc đến thực tế đồi chè nhà ông Ninh và phát hiện ra những cây chè búp tím rồi xin giống về trồng. Trước đó, nhà khoa học này cũng đã tới xã Thái Ninh của huyện Thanh Ba cũ - nơi có khoảng trăm gốc chè búp tím cổ thụ để lấy giống.

“Chè búp tím được hình thành trong quá trình lai tạo tự nhiên, phân ly ra với nhiều dạng hình từ búp tím đậm đến búp tím nhạt. Chúng tôi tuyển chọn giống theo khả năng sinh trưởng, năng suất với các đặc điểm như khung tán có rộng không, mật độ búp có cao không... Bên cạnh chè búp tím bản địa, thế hệ trước chúng tôi cũng có người đi Trung Quốc đem về một số cành chè búp tím mà bên đó gọi là chè thuốc để nhân giống. Tập đoàn giống chè búp tím ở Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè đã được tạo nên như thế”, TS Phương chia sẻ.

Từ tập đoàn chè búp tím trên, năm 2020, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè đã cấp ngược trở lại cho ông Ninh số lượng giống đủ trồng 2 ha. Trên diện tích này, ông không dùng thuốc trừ cỏ, trừ sâu hóa học và hầu như chỉ bón phân hữu cơ. Lạ thay, chỉ cách nhau chừng 1 mét nhưng nương chè búp xanh bị nhiều bọ rầy, bọ xít, bọ cánh tơ tấn công, cứ cắt bằng máy xong là phải phun thuốc, trong khi nương chè búp tím hầu như rất ít thấy nên thậm chí có năm không phải phun thuốc.

Cận cảnh chè búp tím. Ảnh: Dương Đình Tường.

Nương chè búp tím được vợ chồng ông Ninh thuê người hái tay theo kiểu một tôm hai lá, khoảng 2/3 sản lượng được Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà Ut bao tiêu, số còn lại thì bán cho những mối đặt trước với giá 30-35.000đ/kg trong khi chè búp xanh hái máy chỉ bán được 10-12.000đ/kg tươi. Sau khi trừ tất cả chi phí chăm sóc, thuê nhân công với 2 ha chè búp tím họ lãi khoảng 50 triệu đồng trong khi 5 ha chè búp xanh lãi khoảng 70 triệu đồng.

“Chè trồng năm thứ tư, thứ năm mới có hái bán, càng hái lại càng sai. 7 ha chè này người ta đã trả giá 6 tỷ đồng nhưng chúng tôi không bán vì để dành cho các con đang làm ở thành phố sau này có một chốn đi về, một cái nghề còn hơn là để lại cho chúng một đống tiền”. Ông Ninh tâm sự. 

Đến loại trà duy nhất

Trong câu chuyện duyên nợ với cây chè búp tím của mình, ông Ninh luôn nhắc tới hai người phụ nữ cùng tên Phương, người thứ nhất là TS Nguyễn Thị Minh Phương như đã kể ở trên, còn người thứ hai là Lê Thị Hồng Phương - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà Ut (unique tea có nghĩa là trà duy nhất - PV).

Lê Thị Hồng Phương sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, từ bé khi đi chăn trâu cắt cỏ cùng chúng bạn, Phương đã thấy mình bất lợi bởi vóc dáng quá nhỏ, không thể lao động chân tay được nên chỉ có một con đường học, đặc biệt là ngoại ngữ.

Lê Thị Hồng Phương - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà Ut (phải) và những người nông dân trên nương chè. Ảnh: Dương Đình Tường.

Năm 2010, tốt nghiệp Đại học Mỏ địa chất, Hồng Phương quyết định Nam tiến và rẽ lối, làm việc cố định cho 1 công ty xuất khẩu nông sản, và làm thêm cho 8 công ty khác . Khi đã tích lũy được chút vốn, năm 2017, chị trở về quê, mảnh đất trung du nghèo khó chỉ có rừng cọ, đồi chè, thuê một xưởng gỗ bỏ không để thu mua chè khô rồi phân loại, đóng gói, xuất sang các thị trường Afghanistan, Pakistan.

Thấy buôn bán kiểu đó mãi chỉ là cò con, ngắn hạn, cuối năm 2017, chị lên gặp Chủ tịch UBND huyện Thanh Ba nhờ tìm giúp đất để mở xưởng chế biến, được giới thiệu một mảnh ngay nông trường chè Vân Lĩnh, nơi trung tâm của vùng nguyên liệu 2.000 ha chè xanh. Không bằng lòng với con đường giản đơn ấy, Hồng Phương mong muốn xây dựng một sản phẩm chè tạo ra giá trị khác biệt cho quê hương và được các nhà khoa học ở Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm Miền núi phía Bắc gợi ý về cây chè búp tím.

Lúc bấy giờ, cả huyện Thanh Ba chỉ có ông Nguyễn Khang Ninh và bà Phạm Hương Giang trồng được khoảng 5 ha chè búp tím nhưng đầu ra rất khó khăn. Ở những đồi chè khác, người dân đang chặt bớt chè đi để trồng keo cho nhàn rồi kéo nhau đi làm công nhân. Trước tình trạng ấy, chị Phương đã cùng cán bộ Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện tìm đến các hộ đang bỏ hoang đất, giới thiệu với họ về cây chè búp tím, về các mô hình trồng và chế biến chè búp tím của Nhật, Kenya, Trung Quốc, cam kết chuyển giao giống, kỹ thuật và thu mua với giá tối thiểu 15-20.000đ/kg búp tươi.  

Năm đầu tiên có 7 hộ chấp nhận tham gia, trồng được 5 ha. Những năm sau, số lượng hộ tăng dần, diện tích trồng lên được hơn 20 ha. Bản thân chị Phương cũng mua đất 3,2 ha để trồng chè tím nhưng năm đầu thất bại do nôn nóng chưa trồng cây cốt khí tạo bóng mát đã vội trồng chè, buộc phải trồng lại vào năm sau. Một số hộ dân cũng lâm vào tình trạng tương tự.

Đoàn khách Trung Quốc tới thăm nhà máy chế Trà UT. Ảnh: Dương Đình Tường.

Khi cây chè búp tím bắt đầu cho hái bói thì chị lại mày mò tìm cách chế biến thích hợp. Mẻ xào không chín, mẻ vò chưa tới, mẻ nhiệt độ cao, mẻ nhiệt độ thấp, mẻ bị oi khói… đều phải bỏ. Đến lúc chất lượng tạm ổn thì nước chè lại đỏ như củ dền nên khi chị tặng cho người thân hay bạn bè không mấy ai hào hứng dùng thử. Chị lại trăn trở nhiều đêm để tìm cách khắc phục. Nếu như chè búp xanh bản chất đã chứa nhiều chất diệp lục nên dễ tạo được màu nước xanh thì chè búp tím lại khác, khi hái xong phải chế biến ngay trong vòng 1-2 tiếng mới đảm bảo nước không bị đỏ và có được chút màu xanh hiếm hoi.

Mất cả năm tự thử nghiệm như thế, cuối cùng Phương mới tìm ra công thức chế biến phù hợp. Năm 2022, chị đem sản phẩm chè búp tím tham gia chương trình OCOP của tỉnh Phú Thọ nhưng bị ban giám khảo loại vì khi ấy sản lượng còn nhỏ, chưa đủ khả năng thương mại. Năm 2023 khi sản lượng lên được 3 tấn, chị lại tham gia OCOP tiếp, được công nhận 4 sao và năm 2025 được công nhận 5 sao.

Hai điều ước

Hiện Phương có hai nhà máy chế biến chè, một ở Phú Thọ, một ở Lai Châu, tổng sản lượng mỗi năm đạt 1.500-2.000 tấn, tổng doanh thu 80-90 tỷ đồng nhưng trong đó chỉ có khoảng 5 tấn là chè búp tím với doanh thu còn khiêm tốn cỡ 2-3 tỷ đồng (70-80% tiêu thụ trong nước với giá 600-800.000đ/kg, còn lại xuất khẩu sang Anh, Pháp, Dubai… với giá xấp xỉ 40 USD/kg). “Xưa nói đến chè, người Việt hầu như chỉ biết đến chè Thái Nguyên, còn chè Phú Thọ thì chê đắng, nước không xanh, hương kém… Bởi vậy, thời gian đầu đi tiếp thị, em phải đem chè búp tím của mình ra mời khách uống thử, tặng sản phẩm, lan tỏa trong tỉnh trước rồi ngoài tỉnh sau”.

Lê Thị Hồng Phương-Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà Ut bên sản phẩm OCOP 5 sao của mình. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hội chợ, hội nghị, hội thảo về thực phẩm, đồ uống ở trong nước cũng như quốc tế, người ta thường thấy một cô gái vóc dáng bé nhỏ trong bộ quần áo tím say mê giới thiệu về chè búp tím - thứ đặc sản của quê mình. Xưa, Phương quyết tâm học tiếng Anh để theo đuổi mảng xuất nhập khẩu nông sản, giờ chị lại đang tự học tiếng Trung để có thể giao thương trực tiếp được với các thương gia người Hoa. Hôm tôi đến có một đoàn thương gia của Hiệp hội trà tỉnh Phúc Kiến sang, hết thăm chè trên đồi lại thăm nhà máy, kho xưởng rồi ngồi uống trà, bàn chuyện hợp tác.

Tôi hỏi Phương về mơ ước, chị cười đằm thắm rồi nhỏ nhẹ: "Em mơ ước hai điều, thứ nhất là có một đề tài nguyên cứu để làm rõ những tác dụng về y học của chè búp tím; thứ hai là có một dây chuyền công nghệ tách chiết được các hoạt chất quý từ chè búp tím, ứng dụng chúng vào chế biến dược phẩm, thực phẩm chức năng để mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân không còn phải đi tha hương nữa. Đó cũng là lời cam kết ban đầu của em với họ bởi bây giờ thị trường chè búp tím vẫn còn nhỏ, tốc độ tiêu thụ còn chậm nên công ty không bao tiêu giá cao được, bà con cũng khó mở rộng được diện tích”…  

Theo các nhà khoa học, chè búp tím ngoài có ở Phú Thọ còn tìm thấy ở Thái Nguyên, Tuyên Quang..., chúng được chọn lọc từ giống chè bản địa trung du, có khả năng thích ứng với điều kiện thời tiết bất thuận và chống chịu các loài sâu bệnh hại. Đặc biệt giống chè búp tím vừa có thể khai thác nguyên liệu chế biến chè, vừa có thể tách chiết các hợp chất anthocyan phục vụ cho nhu cầu dinh dưỡng và dược liệu. Điểm khác biệt lớn nhất giữa chè tím và chè xanh thông thường ở chỗ hàm lượng anthocyan cực cao (gấp khoảng 135 lần so với chè xanh). Đây là chất chống oxy hóa mạnh, trong tự nhiên giúp cây chè tự bảo vệ trước tia cực tím ở vùng núi cao, đồng thời cũng là chất giúp cho con người phòng chống một số bệnh, tăng cường sức đề kháng.

Dương Đình Tường
Tin khác
Giám đốc ISAAA chia sẻ xu hướng ứng dụng cây trồng thế hệ mới
Giám đốc ISAAA chia sẻ xu hướng ứng dụng cây trồng thế hệ mới

Hệ thống đánh giá rủi ro dựa trên khoa học nhằm bảo đảm các đổi mới công nghệ sinh học được phát triển và thương mại hóa một cách có trách nhiệm và an toàn.

Tổng công trình sư đứng sau kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Tổng công trình sư đứng sau kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam

PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà – Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển chia sẻ về kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) mới nhất ở Việt Nam.

Kỳ diệu Đinh Thị Tiếu Oanh - tác giả và đồng tác giả toàn bộ 20 giống cà phê hiện có của Việt Nam
Kỳ diệu Đinh Thị Tiếu Oanh - tác giả và đồng tác giả toàn bộ 20 giống cà phê hiện có của Việt Nam

Câu chuyện cuối năm với thạc sỹ Đinh Thị Tiếu Oanh khá thú vị, khi chị say mê nói về những giống cà phê mới mà mình cùng cộng sự đang miệt mài nghiên cứu.

Nghị quyết cây dứa trên đồng đất xứ Nghệ
Nghị quyết cây dứa trên đồng đất xứ Nghệ

Chưa bao giờ cây dứa lại mang đến niềm tin mở đường lớn cho nông nghiệp Nghệ An nói riêng và các tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ như mùa xuân này.

Bắc Hưng Hải: Cần ưu tiên xây dựng 18 hệ thống xử lý nước thải
Bắc Hưng Hải: Cần ưu tiên xây dựng 18 hệ thống xử lý nước thải

Để phát triển tổng thể hệ thống Bắc Hưng Hải, việc kiểm soát chất lượng nước phải là nền tảng bắt buộc.

'Hoa thịt chua' - cô gái Mường có bàn tay nhỏ nhưng ước mơ lớn
'Hoa thịt chua' - cô gái Mường có bàn tay nhỏ nhưng ước mơ lớn

Mấy đứa trẻ lớp ba ngồi trên bờ mương nói về mơ ước của mình. Đứa ước có búp bê. Đứa ước có tivi, xe máy. Riêng một đứa ước có 10 tỷ đồng. Nghe thấy thế đám bạn cùng cười.

Người phụ nữ gần 30 năm bảo vệ loài động vật có từ kỷ Jura
Người phụ nữ gần 30 năm bảo vệ loài động vật có từ kỷ Jura

'Lần đầu chạm vào quả trứng rùa như có một mối nhân duyên kết nối tôi với loài vật có từ kỷ Jura cùng thời với loài khủng long' (khoảng 201-145 triệu năm trước).

GS.TS Nguyễn Thị Lan: 'Hãy trao cho phụ nữ tri thức, cơ hội và niềm tin'
GS.TS Nguyễn Thị Lan: 'Hãy trao cho phụ nữ tri thức, cơ hội và niềm tin'

Giáo dục và khoa học là chìa khóa nâng vị thế phụ nữ trong nông nghiệp Việt Nam, thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển nông nghiệp bền vững.

Hải Bình - bình yên cho biển
Hải Bình - bình yên cho biển

Cái tên "Hải Bình" là lời gửi gắm về sự bình yên cho biển. Nhưng để chạm đến bình yên ấy, chị đã chọn đi qua sóng dữ và cả những "bão giông".

Tam Sơn vào vụ xuân: Dấu ấn cán bộ sâu sát ruộng đồng
Tam Sơn vào vụ xuân: Dấu ấn cán bộ sâu sát ruộng đồng

Sau những ngày Tết sum vầy, khi nhiều nơi còn thong thả du xuân trảy hội, cánh đồng Tam Sơn (tỉnh Bắc Ninh) đã rộn ràng bước chân người.

Giám đốc Sài Gòn Kim Hồng: Cơ giới hóa là trách nhiệm với nông dân
Giám đốc Sài Gòn Kim Hồng: Cơ giới hóa là trách nhiệm với nông dân

Khi dám bước vào lĩnh vực tưởng như 'không dành cho mình', doanh nhân Đào Thị Như Hè tạo ra những giá trị nhân văn cho nền nông nghiệp tử tế.