Dòng vốn tín dụng xanh tăng mạnh
Tại Tọa đàm "Giải pháp tín dụng thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ESG" vừa diễn ra, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cho biết, tính đến Quý I/2026, dòng vốn tín dụng xanh tại Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng mạnh, gấp 4,6 lần so với năm 2017.
Quy mô tổng dư nợ xanh toàn thị trường chính thức đạt con số ấn tượng 828 nghìn tỷ đồng, với số lượng tổ chức tín dụng tham gia phát sinh dư nợ tăng mạnh từ 15 đơn vị lên 82 đơn vị.
Số dư nợ đã được các tổ chức tín dụng đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong nền kinh tế. Nguồn: Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN).
Thực tế thời gian qua, hệ sinh thái sản phẩm xanh của nhóm ngân hàng thương mại cũng được mở rộng mạnh mẽ với những gói dòng vốn quy mô lớn. Điển hình như VietinBank vận hành gói tín dụng trung dài hạn 130.000 tỷ đồng và gói "Green Up" ưu đãi trị giá 5.000 tỷ đồng; HDBank ghi nhận tổng mức giải ngân cho các dự án xanh đạt hơn 42.000 tỷ đồng; trong khi Techcombank đã huy động thành công 1.000 tỷ đồng từ khung trái phiếu xanh.
Nhiều công cụ tài chính hiện đại cũng xuất hiện như khoản vay liên kết bền vững (SLL) trị giá hàng tỷ USD của VPBank hay công cụ trí tuệ nhân tạo ESG iAdvisor của Techcombank để hỗ trợ chấm điểm dự án xanh.
Tuy nhiên, nhìn vào hướng đi của dòng vốn đang có sự không đồng đều khi tập trung vào mảng năng lượng tái tạo. Minh chứng như tại VietinBank, danh mục tài trợ cho điện gió, điện mặt trời chiếm tới 87% tổng dư nợ xanh. Tại HDBank, các mảng cốt lõi và là động lực bền vững như kinh tế tuần hoàn, hiệu quả năng lượng, nông nghiệp bền vững hay quản lý chất thải vẫn chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn.
Giải ngân thận trọng, đâu là rào cản?
Sở dĩ các tổ chức tín dụng dù dồi dào thanh khoản nhưng vẫn thận trọng khi giải ngân là bởi thiếu hướng dẫn pháp lý cụ thể. Theo ông Lê Thanh Tùng, Phó Ban chỉ đạo Phát triển bền vững (Viettinbank), hiện vẫn thiếu các hướng dẫn chi tiết, thống nhất trên toàn quốc để xác định, xác nhận dự án theo Danh mục phân loại xanh. Điều này dẫn đến sự không đồng nhất giữa các nhà băng trong khâu thẩm định kỹ thuật và kiểm định điều kiện môi trường. Hệ lụy là rủi ro "tẩy xanh" vẫn hiện hữu. Các dự án tự gắn mác xanh nhưng thiếu chuẩn vận hành và minh bạch dữ liệu có thể đẩy ngân hàng vào rủi ro pháp lý, tổn hại uy tín của toàn bộ danh mục tài trợ.
Mặt khác, theo đại diện các ngân hàng và doanh nghiệp, việc triển khai thực tế Nghị quyết 198 về hỗ trợ lãi suất 2% của Chính phủ cho các dự án ESG còn tương đối phức tạp. Hệ thống chính sách ưu đãi, khuyến khích tài chính xanh (về lãi suất, hạn mức) chưa đầy đủ, đồng bộ và nhất quán.
Dòng tín dụng xanh đang tập trung vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Ảnh minh họa.
Sự lệch pha giữa nguồn vốn thương mại ngắn hạn với các dự án xanh đòi hỏi thời gian hoàn vốn dài từ 10-20 năm, càng khiến các ngân hàng thêm phần e ngại.
Các thiết bị công nghệ xanh chuyên dùng, đặc biệt là trong các ngành năng lượng mới như hệ thống máy điện phân hydro xanh hay pin nhiên liệu, có giá trị đầu tư rất lớn nhưng lại cực kỳ khó định giá và thanh lý khi xảy ra rủi ro. Do đó, các ngân hàng thương mại vẫn phải ưu tiên nhận tài sản thế chấp truyền thống như bất động sản hoặc tiền gửi. Các cơ chế hiện đại như nhận thế chấp bằng quyền tài sản từ hợp đồng bao tiêu dài hạn hay ghi nhận dòng tiền dài hạn và tín chỉ carbon làm tài sản bảo đảm vẫn chưa thể áp dụng rộng rãi.
Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, trở ngại đến từ việc không có hệ thống công bố thông tin đáng tin cậy, thiếu hồ sơ kỹ thuật và dữ liệu chứng minh tác động xanh hoặc mức độ giảm phát thải cụ thể của dự án. Sự thiếu hụt này khiến hồ sơ xin cấp tín dụng xanh của doanh nghiệp bị nghẽn lại ngay từ vòng thẩm định đầu tiên của ngân hàng. Muốn đạt chuẩn, doanh nghiệp phải chi ra nguồn lực rất lớn cho công nghệ sạch, đồng thời gánh thêm chi phí đắt đỏ để thuê các đơn vị độc lập đo lường, kiểm toán phát thải.
Sẽ có hướng dẫn xác định dự án xanh
Để tạo động lực giúp dòng vốn tín dụng xanh chuyển dịch mạnh mẽ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần đóng vai trò hạt nhân thông qua các đòn bẩy tài chính và hoàn thiện thể chế. Ông Lê Thanh Tùng đề xuất cơ quan quản lý cần sớm nghiên cứu áp dụng các cơ chế chính sách tiền tệ mạnh mẽ như tái cấp vốn, hỗ trợ lãi suất hoặc ưu đãi về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đồng thời ưu tiên hạn mức tín dụng cho các ngân hàng có tỷ trọng dư nợ xanh cao.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chuyển Bộ Tư pháp thẩm định, cho ý kiến về dự thảo Hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Tinh thần cốt lõi của hướng dẫn này là kế thừa các quy định hiện hành, tiệm cận chuẩn mực quốc tế nhưng không làm phát sinh các thủ tục hành chính mới, không tạo thêm gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp.
Ông Phan Tiến Thành - đại diện Cục Môi trường cho biết, Bộ NN-MT đã hoàn thiện dự thảo Hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị. Ảnh: Khánh Ly.
Theo ông Phan Tiến Thành, đại diện Cục Môi trường, đây sẽ là căn cứ thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm và các chương trình tín dụng xanh. Đối tượng là doanh nghiệp khu vực tư nhân, hộ/cá nhân kinh doanh, cơ quan nhà nước, ngân hàng thương mại và các quỹ tài chính. Việc đánh giá bắt buộc phải do các tổ chức độc lập thực hiện nhằm đảm bảo công khai, minh bạch.
Còn bà Phạm Thị Thanh Tùng cho biết, Ngân hàng Nhà nước hiện đang hoàn thiện dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách theo hướng đẩy mạnh phân cấp, giao trực tiếp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện thẩm định và chi trả cho doanh nghiệp trên địa bàn. Qua đó sẽ giúp đơn giản hóa quy trình, khắc phục những thủ tục phức tạp của phương thức hỗ trợ gián tiếp qua ngân hàng như trước đây. Thông tư hướng dẫn triển khai đối với các ngân hàng thương mại cũng sẽ được ban hành tiếp nối nghị định.
Hệ thống ngân hàng có thể chuyển dịch từ việc phụ thuộc vào bất động sản sang chấp nhận thế chấp bằng chính hệ thống máy móc công nghệ xanh chuyên dùng nhập khẩu, quyền tài sản hình thành từ hợp đồng bao tiêu dài hạn, hay dòng tiền tương lai từ tín chỉ carbon.
Đón đầu các nguồn lực này, bản thân các ngân hàng thương mại cũng phải chủ động linh hoạt phát triển các sản phẩm tín dụng xanh phù hợp từng nhóm khách hàng, từng ngành/lĩnh vực; tích cực tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ khách hàng hoàn thiện hồ sơ tín dụng, tiếp cận vốn tín dụng để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng tiêu chuẩn ESG, đặc biệt là tháo gỡ bài toán tài sản bảo đảm.
Về phía ngân hàng, theo đại diện Techcombank, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy việc thiết kế các giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng dành riêng cho các ngành công nghiệp xanh, kết hợp số hóa quy trình nội bộ và ứng dụng các trợ lý ảo AI, sẽ giúp tối ưu hóa chi phí và tinh gọn thủ tục cho khối doanh nghiệp vệ tinh vừa và nhỏ.
Mặt khác, mọi giải pháp chính sách sẽ không thể phát huy hiệu quả nếu thiếu đi sự chủ động thay đổi tư duy từ chính các doanh nghiệp vay vốn. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý, thu thập và công bố thông tin môi trường, dữ liệu phát thải khí nhà kính một cách trung thực và định kỳ. Việc nâng cao năng lực lập hồ sơ môi trường đạt chuẩn, phối hợp với các cơ quan chuyên môn để hoàn thiện phương án sản xuất kinh doanh khả thi, chứng minh rõ ràng hiệu quả kinh tế song hành với tác động tích cực tới xã hội.

























