Điều chỉnh sát thực tiễn
Trước niên vụ sầu riêng 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện kiến nghị sửa đổi Nghị định số 38/2026/NĐ-CP theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý và truy xuất nguồn gốc.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp trò chuyện chia sẻ với người trồng sầu riêng ở Đắk Lắk về một số thông tin điều chỉnh trong Nghị định 38 để phát huy hiệu quả hơn trong thời gian tới. Ảnh: Phạm Hoài.
Trao đổi với Báo Nông nghiệp và Môi trường, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, sau hơn nửa năm triển khai, Nghị định 38 đã phát huy hiệu quả nhưng cũng bộc lộ một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và tổng hợp ý kiến từ các địa phương, Bộ đang khẩn trương nghiên cứu đề xuất sửa đổi.
Theo Thứ trưởng, một trong những nội dung trọng tâm là thay đổi cách tiếp cận trong cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Bộ sẽ rà soát lại quy định về diện tích tối thiểu, làm rõ việc cấp mã đối với vùng trồng chuyên canh và xen canh, đồng thời xây dựng quy trình cấp mã theo hướng đơn giản, minh bạch, giảm tối đa chi phí tuân thủ.
"Người dân và doanh nghiệp chỉ cần khai báo trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử. Toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ và cấp mã số vùng trồng sẽ được thực hiện trên môi trường số, giúp rút ngắn thời gian, giảm thủ tục nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Bộ sẽ chuyển mạnh phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Sau khi được cấp mã, các vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được kiểm tra thường xuyên để bảo đảm duy trì điều kiện kỹ thuật. Cơ quan quản lý không chỉ kiểm tra mà còn có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tổ chức sản xuất đúng quy trình, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp gian lận làm ảnh hưởng đến uy tín ngành hàng.
Trao đổi tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk và các đơn vị liên quan, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, đợt tới Bộ sẽ chuyển mạnh phương thức quản lý từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Ảnh: Phạm Hoài.
Tăng tốc trước niên vụ
Đắk Lắk hiện có khoảng 41.000 ha sầu riêng, trong đó gần 30.000 ha đang cho thu hoạch, sản lượng niên vụ 2026 ước khoảng 500.000 tấn. Chỉ còn ít tuần nữa địa phương sẽ bước vào chính vụ nên việc hoàn thiện hạ tầng xuất khẩu được xem là nhiệm vụ cấp bách.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ sớm làm việc với bên nhập khẩu để thúc đẩy phê duyệt các hồ sơ mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói mà Đắk Lắk đã gửi. Nếu được thông qua, hơn một nửa diện tích sầu riêng của tỉnh sẽ đủ điều kiện phục vụ xuất khẩu chính ngạch.
"Song song đó, Bộ khuyến khích tỉnh Đắk Lắk tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng đa dạng thị trường, phát triển chế biến sâu và cấp đông nhằm giảm áp lực tiêu thụ quả tươi trong thời gian thu hoạch rộ. "Không thể phụ thuộc vào một thị trường. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sẽ giúp ngành hàng chủ động hơn trước những biến động", Thứ trưởng nói.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp lắng nghe chia sẻ của một đơn vị kiểm nghiệm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk về quy trình thực hiện. Ảnh: Phạm Hoài.
Thứ trưởng cho biết thêm, về lâu dài, chìa khóa để xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam chính là sản xuất có trách nhiệm, truy xuất được nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm.
"Mỗi sản phẩm phải biết được do ai sản xuất, quy trình như thế nào. Khi xảy ra sự cố phải truy xuất được ngay để xử lý. Chỉ khi tạo dựng được niềm tin thì thương hiệu nông sản Việt Nam mới phát triển bền vững", Thứ trưởng nhấn mạnh.
Một giải pháp được Bộ đặc biệt ủng hộ là chiến dịch "30 ngày" cấp đồng bộ mã số vùng trồng do Đắk Lắk đề xuất. Bộ sẽ phối hợp cùng địa phương hoàn thiện nền tảng số, đưa thủ tục cấp mã lên môi trường điện tử, đồng thời huy động lực lượng hỗ trợ người dân khai báo trực tuyến.
Theo kế hoạch, đến giữa tháng 7, hệ thống thủ tục hành chính toàn trình sẽ được đưa vào vận hành, tạo điều kiện rút ngắn đáng kể thời gian cấp mã số vùng trồng. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cũng kỳ vọng Đắk Lắk sẽ phát huy lợi thế trong xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và liên kết sản xuất. Đây sẽ là nền tảng để Bộ tiếp tục đàm phán với các đối tác nhập khẩu, hướng tới xây dựng các vùng sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành hàng sầu riêng Việt Nam.
















