| Hotline: 0983.970.780

Hướng tới rút ngắn quy trình cấp tín chỉ carbon

Thứ Sáu 14/08/2026 , 13:43 (GMT+7)

Việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký, cấp tín chỉ sẽ được thực hiện theo lộ trình, gắn với hệ thống báo cáo trực tuyến và hoàn thiện cơ sở dữ liệu.

Tiếp phiên buổi sáng, trong chiều 14/8, Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: "Từ chính sách đến hành động" tập trung làm rõ nguyên tắc quản lý, điều kiện và yêu cầu tuân thủ khi Việt Nam tham gia thị trường carbon quốc tế, trong bối cảnh hành lang pháp lý cho hoạt động này đang từng bước được hoàn thiện.

Các đại biểu tham gia phiên tọa đàm trong khuôn khổ Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: 'Từ chính sách đến hành động', chiều 14/8. Ảnh: Hoàng Phi.

Các đại biểu tham gia phiên tọa đàm trong khuôn khổ Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: "Từ chính sách đến hành động", chiều 14/8. Ảnh: Hoàng Phi.

Một trong những nội dung trọng tâm là Nghị định 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Nghị định được Chính phủ ban hành ngày 1/4 và có hiệu lực từ 19/5/2026, tạo khung pháp lý cho việc trao đổi với đối tác quốc tế nhằm thực hiện Thỏa thuận Paris, hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải quốc gia và các mục tiêu khí hậu khác.

Sự kiện có sự tham dự trực tiếp của 400 đại biểu Trung ương, địa phương, các hiệp hội, công ty chứng khoán, các định chế tài chính - ngân hàng thương mại, các quỹ đầu tư trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực: năng lượng tái tạo, dầu khí, thép, xi măng, xây dựng, nông nghiệp giảm phát thải cùng các tổ chức quốc tế.

Tất cảTổng thuật

Hướng tới rút ngắn quy trình cấp tín chỉ carbon

Phát biểu kết luận Diễn đàn, ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đây là một trong những vấn đề cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện khi thị trường carbon đi vào thực tế.

Theo ông, đơn giản hóa thủ tục đăng ký, cấp tín chỉ sẽ được thực hiện theo lộ trình, gắn với hệ thống báo cáo trực tuyến và hoàn thiện cơ sở dữ liệu. Khi dữ liệu đầy đủ và có thể trao đổi, xác minh, quy trình có thể được chuẩn hóa để giảm thủ tục và rút ngắn thời gian xử lý.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-170202_181

Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phát biểu kết luận Diễn đàn. Ảnh: Hoàng Phi.

Tuy nhiên, rút ngắn thủ tục không đồng nghĩa hạ tiêu chuẩn. Không phải mọi hoạt động giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon đều mặc nhiên tạo ra tín chỉ. Dự án phải đáp ứng các yêu cầu về tính bổ sung, toàn vẹn, bền vững; lượng giảm phát thải phải được đo lường, thẩm định và có dữ liệu đủ tin cậy.

Ông Quang nhìn nhận, đây là điều kiện quan trọng bởi tín chỉ không đáp ứng tiêu chuẩn sẽ khó được thị trường công nhận. Cơ quan quản lý cũng đang xem xét khả năng cho phép một số tín chỉ theo tiêu chuẩn carbon độc lập, như Gold Standard, tham gia thị trường carbon trong nước. Cùng với đơn giản hóa thủ tục, tín chỉ được tạo ra và giao dịch cần được quản lý trên hệ thống đăng ký quốc gia.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng với tín chỉ chuyển giao ra nước ngoài. Khi phải thực hiện điều chỉnh tương ứng, lượng giảm phát thải đã chuyển giao sẽ không còn được Việt Nam tính vào mục tiêu giảm phát thải của mình. Vì vậy, việc chuyển giao phải được cơ quan có thẩm quyền xem xét trên cơ sở cân đối với mục tiêu quốc gia.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-170304_543

Các diễn giả và Ban Tổ chức Diễn đàn chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: Trần Phi.

Về phía doanh nghiệp, ông Quang lưu ý không nên coi bán tín chỉ là mục tiêu chính của dự án. Giá tín chỉ biến động và nguồn thu có thể không lớn. Giá trị quan trọng hơn là tín chỉ chất lượng có thể hỗ trợ doanh nghiệp chứng minh kết quả giảm phát thải, thực hiện cam kết Net Zero và thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh.

Bước tiếp sau khi hình thành khung chính sách, theo ông, là đi sâu vào từng lĩnh vực, tháo gỡ các vấn đề cụ thể khi triển khai dự án. Mục tiêu là quy trình thuận lợi hơn cho doanh nghiệp nhưng tín chỉ tạo ra vẫn phải minh bạch, đủ chất lượng và được thị trường công nhận.

Tính toàn vẹn và nguyên tắc của thị trường carbon

Cập nhật các quy định quốc tế mới nhất, ông Perumal Arumugam, Quản lý phụ trách các phương thức thị trường và phi thị trường tại Ban Thư ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC), Cơ chế Điều 6.4, cho biết: Việc đảm bảo thị trường carbon vận hành một cách hiệu quả, minh bạch và toàn vẹn nhất là yêu cầu tối quan trọng, nhằm đóng góp vào nỗ lực giảm phát thải chung và hiện thực hóa các mục tiêu nhiệt độ của Thỏa thuận Paris.

Do đó, phải đảm bảo tính toàn vẹn môi trường để đảm bảo giảm phát thải thực chất. Thực tế hiện nay cho thấy không chỉ các quốc gia mà nhiều chương trình tạo tín chỉ carbon khác nhau cũng đang nhìn nhận Cơ chế tạo tín chỉ theo Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris như một thước đo chuẩn mực cho thị trường carbon chất lượng cao, và chủ động điều chỉnh quy định chính sách để tương thích với cơ chế này.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-164305_855

Ông Perumal Arumugam, Quản lý phụ trách các phương thức thị trường và phi thị trường tại Ban Thư ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) (Cơ chế Điều 6.4).

Thỏa thuận Paris mang tính lũy tiến nên các mục tiêu luôn phải tiến lên chứ không được thụt lùi. Do đó, các phương pháp luận của Điều 6.4 phải bảo đảm thúc đẩy tính mục tiêu giảm phát thải theo lộ trình. Do đó, đường cơ sở phải thực chất, minh bạch, thận trọng và đáng tin cậy. Suốt 20 năm qua, đường cơ sở thường được xác định theo kịch bản phát triển thông thường (BAU).

Tuy nhiên, Điều 6.4 yêu cầu đơn vị phát triển phải chứng minh được mức phát thải của dự án nằm dưới mức BAU, đồng thời phải tương thích với mục tiêu NDC và chiến lược phát thải dài hạn của quốc gia sở tại. Dự án phải căn cứ vào công nghệ khả dụng tốt nhất, mức hiệu suất chuẩn hoặc mức phát thải lịch sử đã qua điều chỉnh giảm.

Dự án cũng phải chứng minh được tính bổ sung, thậm chí vượt trên các yêu cầu bắt buộc của pháp luật hiện hành. Để một dự án được đăng ký theo Điều 6.4, quốc gia tiếp nhận cần đáp ứng hai điều kiện cơ bản: Thứ nhất, chỉ định một đầu mối chính thức duy nhất để báo cáo và làm việc với UNFCCC (ở VIệt Nam là Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Thứ hại, xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững.

Nhiều ý kiến cho rằng thực hiện theo Điều 6.2 sẽ dễ dàng hơn so với Điều 6.4. Đây là một quan niệm chưa chuẩn xác. Điều 6.2 thực chất là khung hạch toán và minh bạch thông tin song phương, trong khi chất lượng và tính toàn vẹn môi trường của tín chỉ vẫn phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe tương đương Điều 6.4. Các yêu cầu cốt lõi vẫn giữ nguyên giá trị dù dự án đi theo cơ chế nào.

Các đơn vị phát triển dự án cần lưu ý đến khung thời gian bắt buộc trong quy trình đăng ký của Điều 6.4 để không làm gián đoạn tiến độ. Một số ý kiến lo ngại rằng Điều 6.4 sẽ không tạo ra lượng tín chỉ dồi dào để bán ra ngoài so với các tiêu chuẩn tự nguyện khác. Tuy nhiên, điều cốt lõi là Việt Nam phải ưu tiên bảo đảm thực hiện cam kết NDC của chính mình. Do đó, cần có sự cân đối và phân chia lợi ích hài hòa giữa lượng tín chỉ được phép chuyển giao thương mại ra quốc tế và lượng tín chỉ giữ lại để đóng góp cho mục tiêu khí hậu của quốc gia.

Những yếu tố quyết định chất lượng tín chỉ carbon

Ông Phan Tiến Thành, Quản lý Phát triển Kinh doanh, Công ty TNHH Green Carbon Japan Vietnam chia sẻ: Tại Việt Nam, Green Carbon đang triển khai dự án canh tác lúa giảm phát thải trên quy mô hơn 80.000 ha, áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD).

Ngay từ những ngày đầu triển khai, công ty đã xác định chất lượng tín chỉ carbon là tiêu chí hàng đầu. Để đảm bảo chất lượng và tính toàn vẹn của tín chỉ, yếu tố quan trọng nhất là công tác khảo sát và thu thập dữ liệu đường cơ sở.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-162116_537

Ông Phan Tiến Thành, Quản lý Phát triển Kinh doanh, Công ty TNHH Green Carbon Japan Vietnam. Ảnh: Hồng Thủy.

Dự án của Green Carbon trải dài trên 15 tỉnh, thành phố với các vùng sinh thái khác nhau. Tập quán canh tác của bà con nông dân có sự thay đổi, điều chỉnh theo từng năm và từng mùa vụ nên việc ghi nhận đầy đủ, không bỏ sót các dữ liệu thực tế là thách thức rất lớn.

Để có được bộ dữ liệu cơ sở chính xác, tin cậy và đạt chuẩn, chúng tôi đã phối hợp với các viện nghiên cứu chuyên ngành, trung tâm khuyến nông và các cơ quan địa phương. Đòng thời, ứng dụng các viễn thám và sử dụng dữ liệu vệ tinh để thu thập dữ liệu về độ che phủ, chu kỳ ngập - khô của ruộng lúa, từ đó xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa phục vụ quá trình thẩm định.

Trong toàn bộ chu trình phát triển dự án tín chỉ carbon, công đoạn tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực nhất chính là huy động sự tham gia của nông dân và các đối tác địa phương. Thực tế, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp vẫn là lĩnh vực khá mới mẻ đối với bà con nông dân. Do đó, công ty phải liên tục tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo đầu bờ để các bên liên quan hiểu rõ về lợi ích, quy trình canh tác giảm phát thải.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-162442_246

Tín chỉ carbon rừng được trao đổi, chuyển nhượng từ 1/7. Ảnh minh họa.

Nhằm hỗ trợ nông dân tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật, chúng tôi tích hợp các ứng dụng số hóa đơn giản trên điện thoại thông minh. Từ đó, cán bộ khuyến nông và bà con có thể cập nhật dữ liệu nhật ký đồng ruộng một cách nhanh chóng. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý địa phương và hệ thống khuyến nông cơ sở đóng vai trò quyết định trong việc thu thập và xác thực dữ liệu ban đầu một cách minh bạch, chính xác.

Việc chuẩn hóa dữ liệu từ đầu vào kết hợp với hệ thống số hóa công tác đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV) chính là nền tảng giúp tín chỉ carbon của dự án đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe nhất, bảo đảm tính minh bạch và giá trị thương mại cao khi đưa ra thị trường.

Trả lời câu hỏi về phương pháp đo phát thải methane (CH₄) và những khác biệt khi phát triển dự án tín chỉ carbon từ lúa tại Việt Nam so với các nước, ông Phan Tiến Thành, Quản lý Phát triển Kinh doanh, Công ty TNHH Green Carbon Japan Vietnam, cho biết Green Carbon hiện sử dụng phương pháp đo trực tiếp.

Cụ thể, doanh nghiệp sử dụng buồng đo khí để lấy mẫu CH₄ trực tiếp trên đồng ruộng, sau đó đưa mẫu về phân tích bằng máy sắc ký khí. Phương pháp này được áp dụng trong các dự án giảm phát thải từ sản xuất lúa mà Green Carbon đang triển khai.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-162723_588

Theo ông Thành, Việt Nam có lợi thế nhất định so với một số quốc gia khác trong phát triển tín chỉ carbon từ lúa, nhờ đã có kinh nghiệm triển khai các chương trình giảm phát thải quy mô lớn. Đặc biệt, Green Carbon đang tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Các phương pháp đo đạc và giảm phát thải của doanh nghiệp có thể bám sát chương trình này, qua đó thuận lợi hơn trong quá trình xây dựng và triển khai dự án tín chỉ carbon.

Câu chuyện chủ động giảm phát thải ở Tập đoàn TH

Chia sẻ về kinh nghiệm của Tập đoàn TH, PGS.TS Sử Thanh Long, Giám đốc Dự án sữa quốc tế Tập đoàn TH, giảng viên cao cấp Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, với TH, phát triển bền vững không chỉ là câu chuyện đáp ứng các yêu cầu về môi trường mà đã trở thành một định hướng xuyên suốt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xây dựng thương hiệu.

Tập đoàn đặt mục tiêu bảo vệ thương hiệu theo hướng bền vững cả ở thị trường trong nước và quốc tế, dưới sự giám sát của Ủy ban Bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu này, TH xác định ba trụ cột quan trọng gồm kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và ứng dụng dữ liệu lớn (big data), blockchain trong quản trị và kiểm soát phát thải.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-161522_165

PGS.TS Sử Thanh Long, Giám đốc Dự án sữa quốc tế Tập đoàn TH, giảng viên cao cấp Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Trần Phi.

Một trong những điểm đáng chú ý trong hành trình giảm phát thải của TH là việc tập đoàn đã chủ động đo đếm lượng phát thải carbon trong toàn bộ chuỗi sản xuất từ năm 2018, trước thời điểm Việt Nam đưa ra cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26 năm 2021.

Theo PGS.TS Sử Thanh Long, sự chuẩn bị từ sớm giúp TH có nền tảng dữ liệu và kinh nghiệm thực tiễn để nhanh chóng triển khai các giải pháp giảm phát thải, đồng thời đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Đến năm 2023, hai đơn vị của tập đoàn đã đạt trạng thái trung hòa carbon. Một năm sau, 11 dòng sản phẩm tiếp tục được công nhận trung hòa carbon.

Từ quá trình thực tế của TH, PGS.TS Sử Thanh Long cũng lưu ý cần phân biệt giữa lượng phát thải doanh nghiệp tự cắt giảm với tín chỉ carbon được đưa ra thị trường. Theo ông, nếu doanh nghiệp chủ động giảm phát thải trong quá trình sản xuất thì lượng giảm này không mặc nhiên trở thành tín chỉ carbon để doanh nghiệp bán ra bên ngoài và hưởng thêm lợi ích tài chính.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-161643_3

Mọi hoạt động của TH đều tuân thủ nguyên tắc sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, năng lượng xanh, năng lượng tái tạo. Ảnh: Nguyễn Lê Thăng.

Với một doanh nghiệp có nghĩa vụ giảm ô nhiễm, việc vừa thực hiện giảm phát thải để đáp ứng trách nhiệm của mình, vừa bán chính lượng giảm đó ra thị trường để thu lợi ích kép là cách hiểu không phù hợp. Tuy nhiên, xét trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, lượng phát thải được cắt giảm có thể được xem như một dạng “carbon nội bộ”.

Chẳng hạn, nếu định mức phát thải của doanh nghiệp là 900 tấn carbon, nhưng nhờ các giải pháp cải tiến, doanh nghiệp cắt giảm được 800 tấn và lượng phát thải thực tế chỉ còn 100 tấn, thì doanh nghiệp chỉ cần thực hiện bù trừ đối với 100 tấn còn lại.

Trong cách tiếp cận này, 800 tấn phát thải đã được cắt giảm chính là kết quả của các giải pháp giảm phát thải nội bộ, có giá trị tương đương về mặt lượng giảm phát thải nhưng không đồng nghĩa với một lượng tín chỉ carbon được tự động tạo ra để bán thương mại.

Theo ông Nguyễn Thành Công, khi tham mưu cho Bộ đăng ký tham gia Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris, Cục Biến đổi khí hậu đã căn cứ vào các lĩnh vực và biện pháp giảm phát thải được quy định trong Nghị định 112/2026/NĐ-CP. Theo đó, các lĩnh vực và tiểu lĩnh vực thuộc danh mục sẽ là cơ sở để Việt Nam xác định phạm vi tham gia Điều 6.4. Ông cho biết thêm, các tổ chức, doanh nghiệp và nhà phát triển dự án quan tâm có thể trực tiếp tra cứu các danh mục này để tìm hiểu những lĩnh vực được Việt Nam ưu tiên, thay vì phải tìm kiếm riêng trên hệ thống thông tin của Liên hợp quốc.

Phiên thảo luận: "Cơ chế Điều 6.4: Chất lượng tín chỉ và tính toàn vẹn môi trường"

Tiếp theo chương trình là phiên thảo luận: "Cơ chế Điều 6.4: Chất lượng tín chỉ và tính toàn vẹn môi trường".

Trao đổi về phương pháp luận tạo tín chỉ carbon theo Điều 6.4, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon - Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng Việt Nam hiện chưa có một bộ phương pháp luận thống nhất để áp dụng trong hợp tác quốc tế theo Điều 6.2 và 6.4. Trong khi đó, các phương pháp luận theo cơ chế Điều 6.4 của Liên Hợp Quốc đang được ban hành khá chậm.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-160146_601

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon - Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Trần Phi.

Theo ông Công, các tiêu chuẩn carbon tự nguyện như Verra, Gold Standard cũng đang điều chỉnh phương pháp luận để tiệm cận với yêu cầu của Điều 6.4. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu cơ chế công nhận các phương pháp luận của những tiêu chuẩn tự nguyện đã đáp ứng các yêu cầu tương đồng với Điều 6.4, thay vì phải xem xét, phê duyệt từng phương pháp riêng lẻ.

Cách tiếp cận này, theo ông Công, có thể rút ngắn thời gian, tạo hành lang rõ ràng và mở khóa cho nhiều dự án carbon, trong bối cảnh thị trường carbon đang hình thành. Phản hồi ý kiến trên, đại diện Cục Biến đổi khí hậu cho biết, cơ chế Điều 6.4 do Ban Thư ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc quản lý và đang được định hướng trở thành một trong những cơ chế có tiêu chuẩn tín chỉ carbon chất lượng cao nhất trên thế giới.

Do các phương pháp luận theo Điều 6.4 đang được hoàn thiện chậm, nhiều tiêu chuẩn carbon khác cũng đang rà soát, điều chỉnh phương pháp để hướng tới sự tương đồng với cơ chế này. Hiện số phương pháp luận được phê duyệt theo Điều 6.4 vẫn còn rất hạn chế.

Đại diện Cục Biến đổi khí hậu cho biết Việt Nam đang tiếp tục rà soát các phương pháp luận quốc tế. Mục tiêu là xây dựng môi trường đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư, đồng thời bảo đảm tín chỉ carbon “Made in Vietnam” có chất lượng và độ tin cậy cao, qua đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư quốc tế và thúc đẩy thị trường carbon trong nước.

Ưu tiên trao đổi quốc tế tín chỉ dự án năng lượng tái tạo có công nghệ chưa phổ biến tại Việt Nam

Ông Angus McEwin Managing Director, nhà sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành của Công ty Monsoon Carbon bày tỏ vui mừng khi Việt Nam đã ký kết Thỏa thuận trao đổi tín chỉ carbon theo Điều 6 với Singapore.

Trong đó, đã đưa dự án năng lượng tái tạo vào danh mục các loại hình dự án được phép giao dịch tín chỉ. Tuy nhiên, dự án năng lượng tái tạo lại không thuộc diện ưu tiên/khuyến khích chuyển giao theo Nghị định 112.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-155200_760

Ông Angus McEwin Managing Director, nhà sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành (Managing Director) của Công ty Monsoon Carbon. Ảnh: Hồng Thủy.

Do đó, Monsoon Carbon hỏi liệu có cơ chế chính sách mở nào cho dự án điện gió trên bờ và điện mặt trời tham gia chuyển giao? Về vấn đề này, ông Nguyễn Thành Công chia sẻ: Xu hướng thị trường tín chỉ carbon quốc tếhiện nay, việc công nhận và phát hành tín chỉ carbon cho các dự án năng lượng tái tạo ngày càng bị thu hẹp và hạn chế do tiêu chí về tính bổ sung.

Cụ thể gồm hai yếu tố: Công nghệ áp dụng không phải là công nghệ đã phổ biến rộng rãi trên thị trường; và dự án nếu không có nguồn thu bổ sung từ tín chỉ carbon thì sẽ không đảm bảo tính khả thi về mặt tài chính. Cách đây 5-10 năm, các dự án năng lượng tái tạo đáp ứng rất tốt tiêu chí này do chưa nhận được sự quan tâm và mức độ đầu tư hợp lý.

Tuy nhiên hiện nay, năng lượng tái tạo đã trở nên rất phổ biến, giá thành công nghệ giảm sâu, dẫn đến việc các dự án dạng này ngày càng ít đáp ứng được tiêu chí bổ sung để cấp tín chỉ carbon. Ngay cả các cơ chế tự nguyện quốc tế hiện nay cũng đã siết chặt, gần như không còn cấp tín chỉ cho các dự án năng lượng mặt trời nối lưới thông thường.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-155252_91

Chính vì lý do trên, Nghị định 112 đã quy định rất rõ ràng và phân nhóm cụ thể đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo. Theo đó, nhóm công nghệ mới, ưu tiên chuyển giao quốc tế tập trung vào các loại hình đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ cao và chưa phổ biến tại Việt Nam như điện gió ngoài khơi, địa nhiệt, năng lượng sóng/thủy triều... Đây là những lĩnh vực thực sự cần khuyến khích dòng vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ từ quốc tế.

Đối với các loại hình đã phổ biến (như điện mặt trời, điện gió trên bờ), Nghị định 112 quy định chỉ xem xét đối với những hệ thống không nối lưới không được hưởng các cơ chế trợ giá/ưu đãi chính sách về giá điện, hoặc được triển khai tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Những dự án này mới thực sự cần sự hỗ trợ tài chính bổ sung từ thị trường carbon để duy trì vận hành.

Sau khi Nghị định 112 chính thức ban hành, cơ quan chức năng của Việt Nam và phía đối tác Singapore thống nhất nguyên tắc sẽ tiến hành rà soát, sửa đổi và bổ sung phụ lục danh mục đi kèm Thỏa thuận triển khai. Việc cập nhật này nhằm đảm bảo tính đồng bộ với quy định của Nghị định 112 và vừa phù hợp với các định hướng ưu tiên hợp tác hiện nay của cả hai quốc gia.

TP.HCM nên xây dựng các dự án giảm phát thải trực tiếp

Tại cuộc thảo luận, đại diện Sở Công Thương TP.HCM đặt vấn đề thành phố có thể xây dựng một cơ chế đặc thù để chủ động mua một lượng lớn tín chỉ carbon, qua đó hình thành nguồn dự trữ. Nguồn tín chỉ này có thể được chuyển giao cho các cơ sở phát thải trên địa bàn, trong đó có 466 doanh nghiệp thuộc diện phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải.

Ngoài ra, thành phố cũng có thể sử dụng nguồn tín chỉ này để bù trừ cho một số hoạt động dịch vụ công, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net-Zero). Tuy nhiên, ông Neeraj Joshi, Chuyên gia trưởng Biến đổi Khí hậu, Khối Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) cho rằng khả năng áp dụng mô hình này phụ thuộc vào quy định cụ thể của từng quốc gia.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-154739_456

Ông Hoàng Văn Ái, đại diện Sở Công thương TP.HCM đặt vấn đề thành phố có thể xây dựng một cơ chế đặc thù để chủ động mua một lượng lớn tín chỉ carbon. Ảnh: Hồng Thủy.

Đối với Việt Nam, thị trường carbon hiện được định hướng xây dựng theo mô hình hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải (ETS) ở cấp quốc gia, thay vì tổ chức các hệ thống ETS riêng biệt ở cấp tỉnh, thành phố hoặc cấp vùng.

Với 466 doanh nghiệp phát thải lớn được đề cập, chuyên gia cho rằng việc các doanh nghiệp này thực hiện kiểm kê khí nhà kính là bước đi phù hợp, bởi đây là những cơ sở có mức phát thải cao thuộc các nhóm ngành, lĩnh vực nằm trong danh mục quản lý. Khi tham gia cơ chế đấu giá hạn ngạch phát thải, các doanh nghiệp sẽ có điều kiện thực hiện giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon để đáp ứng các nghĩa vụ tuân thủ của mình.

Do đó, dù mô hình chính quyền đứng ra mua tín chỉ carbon rồi phân bổ lại cho doanh nghiệp đã được triển khai tại một số thị trường trên thế giới, chuyên gia cho rằng cơ chế hiện hành của Việt Nam chưa cho phép TP.HCM tự mua tín chỉ carbon rồi phân phối lại cho các doanh nghiệp thuộc diện tuân thủ.

Việc giao dịch hạn ngạch và tín chỉ để đáp ứng nghĩa vụ tuân thủ hiện được thiết kế theo hướng các doanh nghiệp tự tham gia thị trường và tự thực hiện nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ hệ thống cấp quốc gia.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-154900_370

Đại biểu dự tọa đàm lắng nghe thông tin được các diễn giả trao đổi. Ảnh: Hồng Thủy.

Ở góc độ khác, cần phân biệt giữa cơ chế thị trường tuân thủ và các hoạt động giảm phát thải tự nguyện. Đối với thị trường tuân thủ, các doanh nghiệp phát thải lớn phải chủ động thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải theo kế hoạch và đóng góp vào mục tiêu NDC của quốc gia.

Việc sử dụng tín chỉ từ các hoạt động hấp thụ carbon để bù trừ cho phép doanh nghiệp tiếp tục duy trì mức phát thải cao không phải là hướng tiếp cận được khuyến khích. Theo chuyên gia, thay vì xây dựng một quỹ để mua tín chỉ carbon rồi hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp tục phát thải, TP.HCM có thể tập trung vào những dự án giảm phát thải trực tiếp trên địa bàn.

Đây là hướng đi vừa phù hợp với mục tiêu xây dựng đô thị phát thải ròng bằng 0, vừa có khả năng tạo ra các tín chỉ carbon tự nguyện và mở ra cơ hội thu hút thêm nguồn lực đầu tư quốc tế. Trong khuôn khổ cơ chế hiện hành, TP.HCM chưa thể tự thiết lập một cơ chế riêng để mua tín chỉ carbon rồi phân phối lại cho các doanh nghiệp.

Mọi chủ rừng đều có thể tham gia dự án carbon

Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Điều 7 Luật Lâm nghiệp quy định khá rõ về các loại chủ rừng. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhóm này bao gồm rừng do các ban quản lý rừng quốc gia, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quản lý. Trong khi đó, rừng được giao cho hộ gia đình, cá nhân chủ yếu là rừng sản xuất.

Theo quy định tại Nghị định 58/2024/NĐ-CP, các loại chủ rừng đều có thể tham gia hợp tác, liên kết để thực hiện các dự án liên quan đến carbon. Tuy nhiên, hình thức hợp tác sẽ khác nhau tùy thuộc vào chủ thể sở hữu và quản lý rừng.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-153912_647

Đối với rừng do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, việc hợp tác, liên kết phải tuân thủ các quy định pháp luật về hợp tác công - tư, bảo đảm công khai, minh bạch và có cơ chế thống nhất. Việc này nhằm tránh tình trạng các bên tự thỏa thuận thiếu căn cứ, gây khó khăn cho việc chứng minh tính minh bạch của dự án.

Đối với rừng thuộc sở hữu tư nhân, các bên có thể chủ động thỏa thuận về hình thức hợp tác, liên kết trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật. Dù thuộc hình thức sở hữu nào, việc đăng ký dự án carbon vẫn phải thực hiện theo quy định tại Nghị định 58. Trường hợp có chuyển giao tín chỉ carbon ra quốc tế, dự án cũng phải tuân thủ các quy định quốc tế liên quan.

Tín chỉ carbon giúp nâng cao uy tín và vị thế thương hiệu

Chia sẻ kinh nghiệm triển khai dự án tín chỉ carbon, ông Trần Tấn Việt - Thành viên HĐQT Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa cho biết: AgriS là doanh nghiệp nông nghiệp thuần túy, sở hữu chuỗi giá trị khép kín từ phát triển vùng nguyên liệu, chế biến đến thương mại sản phẩm. Doanh nghiệp tập trung vào mía, dừa, lúa và cây ăn quả, với địa bàn hoạt động trải rộng tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Úc.

Đến nay, AgriS đã bắt đầu ghi nhận những kết quả cụ thể với 4.375 tín chỉ carbon từ dự án phân bón hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế Verra (VCS); phát hành 25.000 chứng chỉ năng lượng tái tạo (I-REC). Nhà máy Ba Trà chuyên xử lý phụ phẩm nông nghiệp cũng dự kiến sẽ cung cấp 9.600 tín chỉ carbon/năm.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-152408_901

Ông Trần Tấn Việt (phải) - Thành viên HĐQT Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS). Trần Phi.

Đặc biệt, công ty bước đầu hiện thực hóa cơ hội hợp tác quốc tế thông qua việc ký kết thỏa thuận chuyển giao tín chỉ carbon song phương với đối tác Singapore theo khuôn khổ Điều 6.2 Thỏa thuận Paris. Thực tế, nguồn thu trực tiếp từ việc bán tín chỉ carbon ở giai đoạn hiện tại chưa đóng góp quá lớn vào cơ cấu tài chính.

Tuy nhiên, việc tiên phong tạo ra tín chỉ carbon đã nâng cao uy tín và vị thế thương hiệu của công ty trên thị trường quốc tế. Nhờ đó, các quỹ đầu tư và định chế tài chính lớn rất tin tưởng, chủ động tìm đến và tạo điều kiện cho AgriS tiếp cận các gói tín dụng xanh quy mô lớn với lãi suất ưu đãi. Phải nói rằng, điều này rất khó đạt được nếu không xây dựng được uy tín vững chắc về môi trường. Bên cạnh những thuận lợi, có 3 khó khăn cốt lõi với doanh nghiệp.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-152544_949

Thứ nhất, chi phí tư vấn, đo đạc, thẩm tra và hoàn thiện hồ sơ dự án tín chỉ carbon hiện rất tốn kém. Ban lãnh đạo công ty thường nói vui là "một tiền gà, ba tiền thóc" nếu chỉ xét thuần túy trên doanh thu bán tín chỉ ngắn hạn. Dù vậy, nhìn vào lợi ích tổng thể dài hạn, doanh nghiệp vẫn chấp nhận đầu tư.

Thứ hai, các thủ tục chứng nhận, thẩm tra độc lập và cơ chế vận hành giao dịch trên thực tế vẫn còn nhiều rào cản kỹ thuật. Về chuyển giao tín chỉ quốc tế, doanh nghiệp rất mong sớm có văn bản hướng dẫn chi tiết, rõ ràng từ cơ quan quản lý về thủ tục chuyển giao kết quả giảm phát thải/tín chỉ carbon ra quốc tế theo Điều 6.2 để doanh nghiệp thuận tiện triển khai.

Ông Việt cũng cho rằng doanh nghiệp đầu tư một dự án chỉ với mục tiêu tạo tín chỉ carbon để bán là phương án khó khả thi. Hướng tiếp cận phù hợp hơn là đầu tư giảm phát thải trong hoạt động sản xuất, từ đó lượng giảm phát thải đủ điều kiện có thể trở thành tín chỉ và tạo thêm nguồn thu.

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp muốn đưa tín chỉ này ra thị trường quốc tế, những vấn đề pháp lý mới phát sinh. Một trong số đó là cơ chế ủy quyền của quốc gia đối với việc chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải quốc tế theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris.

Đây là vấn đề doanh nghiệp cần được hướng dẫn cụ thể để biết một tín chỉ muốn chuyển giao theo cơ chế này phải đáp ứng những điều kiện nào và thực hiện theo quy trình ra sao. Yêu cầu này càng đáng chú ý khi Việt Nam đã có hợp tác với một số quốc gia trong lĩnh vực tín chỉ carbon.

Việt Nam đang đi đúng hướng với thị trường carbon

Theo ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon (Cục Biến đổi khí hậu), việc xây dựng và thực hiện các quy trình liên quan đến tín chỉ carbon được bảo đảm tính minh bạch, chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Đây không chỉ là yếu tố góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên thị trường carbon quốc tế mà còn tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi tham gia giao dịch, chuyển nhượng tín chỉ carbon xuyên biên giới.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-151852_237

Các đại biểu khách mời lắng nghe thông tin từ các diễn giả trong phiên Tọa đàm. Ảnh: Trần Phi.

Đối với hợp tác quốc tế theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris, Việt Nam hiện đã ký kết một số thỏa thuận với các đối tác và đang tiếp tục hoàn thiện các bước triển khai. Cục Biến đổi khí hậu đang tích cực phối hợp với các đối tác quốc tế để sớm xây dựng và ban hành hệ thống biểu mẫu, hướng dẫn và quy trình chi tiết.

Các tài liệu này sẽ được thiết kế trên cơ sở hài hòa giữa yêu cầu của pháp luật Việt Nam và các quy định, tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng các yêu cầu khi tham gia trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ carbon với đối tác nước ngoài.

Trả lời câu hỏi về những lợi thế và hạn chế của Việt Nam so với các quốc gia khác, ông Neeraj Joshi nhấn mạnh mỗi nước thường có một lộ trình phát triển thị trường carbon riêng. Vì vậy, cần nhìn vào quá trình Việt Nam từng bước xây dựng và hoàn thiện thị trường carbon.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-152008_949

Theo ông, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong thời gian ngắn, từ hình thành nền tảng pháp lý trong Luật Bảo vệ môi trường, ban hành các quy định về thị trường carbon và Nghị định 06 về sàn giao dịch carbon, đến các quy định liên quan đến vận hành, giám sát và theo dõi thị trường. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam đã ban hành thêm 2 quy định quan trọng cùng một số thông tư hướng dẫn, ghi nhận những tín chỉ carbon đầu tiên.

“Quá trình xây dựng thị trường carbon cũng là quá trình học hỏi đối với tất cả các bên liên quan. Do đó, không chỉ cần nâng cao năng lực đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước mà còn đối với doanh nghiệp, các nhà phát triển dự án, tổ chức tài chính và các chủ thể tham gia thị trường.

Việt Nam đang đi đúng hướng khi đã xây dựng được khung pháp lý và quy trình cần thiết để triển khai các cơ chế hợp tác theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris. Đối với Điều 6.4, dù cơ chế này do Liên hợp quốc quản lý tập trung, Việt Nam đã có quy trình để các dự án trong nước có thể tham gia”, ông đánh giá.

Có thể liên kết doanh nghiệp thực hiện dự án carbon rừng cấp tỉnh

Trả lời câu hỏi của bà Nguyễn Ngọc Gia Mỹ - Trung tâm Sinh thái Môi trường và Tài nguyên, về cơ chế để doanh nghiệp phối hợp với cơ quan chuyên môn và UBND cấp tỉnh triển khai dự án carbon rừng trên phạm vi toàn tỉnh, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho biết:

Nghị định 180 đã quy định rõ việc chủ rừng có thể hợp tác, liên kết với nhà đầu tư hoặc đơn vị trung gian để xây dựng, đăng ký, thẩm định và công nhận tín chỉ carbon rừng. Trong trường hợp chủ rừng là các tổ chức Nhà nước, việc hợp tác với doanh nghiệp được xem xét theo cơ chế đối tác công - tư (PPP) và phải tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-151533_524

Bà Nguyễn Ngọc Gia Mỹ - Trung tâm Sinh thái Môi trường và Tài nguyên, đặt câu hỏi về cơ chế để doanh nghiệp phối hợp với cơ quan chuyên môn và UBND cấp tỉnh triển khai dự án carbon rừng trên phạm vi toàn tỉnh. Ảnh: Trần Phi.

Đối với dự án carbon rừng trong nước, quy trình đăng ký, thẩm định và công nhận được quy định cụ thể; với các dự án có chuyển giao quốc tế, thực hiện theo quy định tại Nghị định 12.

Ông Lượng cho biết thêm, để tạo cơ sở triển khai, cơ quan quản lý đã ban hành Thông tư 31 về phương pháp định giá tín chỉ carbon rừng; đồng thời Bộ Khoa học và Công nghệ vừa công bố tiêu chuẩn quốc gia về carbon rừng.

“Doanh nghiệp, địa phương nghiên cứu kỹ các quy định này cùng hệ thống văn bản liên quan thì hoàn toàn có cơ sở để triển khai các dự án carbon rừng”, ông Lượng nhấn mạnh.

Giá trị của giảm phát thải không dừng ở tiền bán tín chỉ carbon

Nguồn thu trực tiếp từ tín chỉ carbon có thể không lớn, nhưng khả năng chứng minh minh bạch kết quả giảm phát thải có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí thấp và kỳ hạn dài hơn. Ông Nguyễn Ngọc Tùng, CFA, Quỹ VinaCarbon (VinaCapital) nhấn mạnh điều này và cho rằng doanh nghiệp không nên chỉ đặt câu hỏi có thể bán tín chỉ carbon được bao nhiêu tiền. Quan trọng hơn là nhìn nghĩa vụ môi trường như cơ hội tạo ra một tài sản có giá trị về kinh tế và môi trường.

Theo ông, khi doanh nghiệp xây dựng được hệ thống và quy trình giảm phát thải, lượng giảm phát thải phải có khả năng đo đếm và chứng minh. Sự minh bạch này là yếu tố được các nhà đầu tư quốc tế quan tâm và đánh giá cao. Khi giá trị môi trường được chứng minh rõ ràng, nhà đầu tư có thể sẵn sàng cung cấp nguồn vốn rẻ hơn và dài hạn hơn để doanh nghiệp tiếp tục phát triển.

à

Các khách mời tham gia tọa đàm. Ảnh: Trần Phi.

Đây là lợi ích gián tiếp khó lượng hóa ngay thành tiền, nhưng có thể lớn hơn khoản doanh thu trực tiếp từ việc bán tín chỉ carbon. Cách tiếp cận này cũng thay đổi bài toán đầu tư của doanh nghiệp. Thay vì tính toán một dự án giảm phát thải dự kiến tạo được bao nhiêu tín chỉ và bán với mức giá nào, doanh nghiệp có thể tính đến giá trị tổng thể của việc xây dựng năng lực quản trị carbon.

Một hệ thống có khả năng xác định nghĩa vụ môi trường, đo lường kết quả giảm phát thải và chứng minh minh bạch những kết quả này không chỉ phục vụ giao dịch carbon. Theo ông Tùng, nó còn tạo ra giá trị mới và góp phần xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp.

Giá trị này hiện chưa dễ lượng hóa, nhưng có thể trở nên rõ ràng khi doanh nghiệp tiếp cận được nhà đầu tư, nguồn vốn và các cơ hội phát triển dài hạn nhờ năng lực môi trường đã được chứng minh. Vì vậy, theo ông Tùng, tín chỉ carbon không nên được nhìn đơn thuần như một sản phẩm để bán lấy tiền. Giá trị lớn hơn có thể nằm ở việc biến kết quả giảm phát thải thành bằng chứng về năng lực môi trường, từ đó tạo uy tín và mở thêm cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp.

Tận dụng hợp tác tại Điều 6 để xây dựng danh mục dự án carbon

Ông Neeraj Joshi, Chuyên gia trưởng Biến đổi khí hậu, Khối Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương tại IFC nhận định, Việt Nam đang có một khởi đầu thuận lợi khi đã hình thành khung pháp lý cho thị trường carbon, cùng hệ thống cơ quan quản lý, quy trình cấp phép và các quy định về MRV.

Theo ông, điểm đáng chú ý trong Nghị định số 112/2026/NĐ-CP là quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ ở từng cấp. Chủ dự án có thể biết cơ quan quản lý cấp tỉnh, bộ, ngành và Cục Biến đổi khí hậu cần bao nhiêu thời gian để xem xét, cho ý kiến hoặc phê duyệt hồ sơ.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-150527_41

Ông Neeraj Joshi, Chuyên gia trưởng Biến đổi Khí hậu, Khối Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC). Ảnh: Trần Phi.

“Trong nhiều trường hợp, thách thức là sau khi nộp hồ sơ, chúng ta không biết khi nào sẽ nhận được phản hồi”, ông nói. Từ nền tảng này, Việt Nam cần tính toán kỹ việc cấp phép chuyển giao tín chỉ carbon quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Điều 6 của Thỏa thuận Paris.

Ông Neeraj Joshi lưu ý lượng tín chỉ được chuyển giao phải phù hợp với lộ trình thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), tránh ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành mục tiêu giảm phát thải quốc gia. Một vấn đề khác được ông nhấn mạnh là vốn cho các dự án. Nhiều dự án giảm phát thải cần khoản đầu tư lớn ngay từ đầu, do đó, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, chủ dự án, ngân hàng và các tổ chức tài chính để tạo cơ chế hỗ trợ vốn ban đầu.

Ông cũng đề xuất Việt Nam tận dụng các thỏa thuận hợp tác theo Điều 6 với Nhật Bản, Singapore và các đối tác khác để xây dựng danh mục dự án theo từng lĩnh vực. Lúa phát thải thấp, giảm methane trong chăn nuôi, lâm nghiệp bền vững và rừng ngập mặn là những hướng có thể ưu tiên. Theo đó, các dự án được chuẩn bị sẵn có thể kết nối trực tiếp với người mua quốc tế, qua đó rút ngắn thời gian tìm kiếm thị trường và tiếp cận nguồn vốn.

Xây dựng sổ tay hướng dẫn nộp hồ sơ dự án

Liên quan đến mốc thời gian phản hồi thông tin các dự án giảm phát thải, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon (Cục Biến đổi khí hậu) cho biết: "Nghị định 112 đã đưa ra những quy định rất rõ ràng về thời gian phản hồi thông tin dự án cũng như thời gian đưa ra quyết định hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các bước tiếp theo".

Cụ thể, sau khi doanh nghiệp nộp hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ rà soát tính hợp lệ của hồ sơ trong vòng 2 ngày làm việc. Thời gian để tiến hành các bước đánh giá nội bộ đối với văn kiện dự án là khoảng 45 ngày.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-150227_291

Quang cảnh Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: "Từ chính sách đến hành động", chiều 14/8. Ảnh: Trần Phi.

Khoảng thời gian này bao gồm việc lấy ý kiến từ các cơ quan có liên quan và đưa ra phản hồi chính thức cho doanh nghiệp. Trên cơ sở các dự án đã được chấp thuận và sau khi lấy ý kiến của các bộ, ngành liên quan, cơ quan quản lý sẽ mất khoảng 15 ngày để ban hành thư chấp thuận chuyển giao quốc tế cho doanh nghiệp.

Cũng theo ông Nguyễn Thành Công, hiện tại, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang làm việc với đối tác để xây dựng một cuốn sổ tay hướng dẫn. Cuốn sổ tay này được thiết kế với cách viết đơn giản, dễ hiểu nhất để doanh nghiệp có thể dễ dàng tham khảo và triển khai trực tiếp các bước quy trình.

Nhà đầu tư nhìn gì ở dự án carbon?

Trả lời câu hỏi doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để tận dụng các yêu cầu môi trường và biến nghĩa vụ thành cơ hội, từ thực tế đầu tư của VinaCarbon tại Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Tùng, CFA, Quỹ VinaCarbon (VinaCapital) cho biết, dưới góc nhìn của nhà đầu tư quốc tế, có một số yếu tố quan trọng cần được doanh nghiệp đặc biệt lưu ý.

Thứ nhất là chất lượng tín chỉ carbon. Nhà đầu tư quan tâm tín chỉ được tạo ra như thế nào, có đáp ứng các tiêu chuẩn hay không, được đánh giá và xác minh độc lập ra sao, có đủ điều kiện giao dịch hay không; đồng thời cần làm rõ khả năng kết nối với thị trường carbon trong nước và quốc tế.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-145911_846

Ông Nguyễn Ngọc Tùng, CFA, Giám đốc Quỹ Tác động Khí hậu VinaCarbon (VinaCapital). Ảnh: Trần Phi.

Thứ hai là hiệu quả và tính bền vững của dự án. Với những dự án như xử lý rác, nhà đầu tư sẽ xem xét nguồn doanh thu chính có đủ để dự án duy trì hoạt động hay không. Tín chỉ carbon được xem là nguồn thu bổ sung.

Nếu không còn doanh thu từ tín chỉ carbon, dự án vẫn phải có khả năng vận hành và tạo hiệu quả kinh tế. Đối với các dự án carbon từ rừng, nhà đầu tư sẽ quan tâm nhiều đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và chia sẻ doanh thu tín chỉ carbon, cũng như tác động đối với cộng đồng và môi trường.

Thứ ba là khả năng sinh lời. Nhà đầu tư phải tính toán toàn bộ chi phí, bao gồm phần chia sẻ lợi ích với người dân, chủ rừng và các cơ quan liên quan, để xác định phần doanh thu còn lại có đủ hấp dẫn để đầu tư và duy trì dự án lâu dài hay không.

Thứ tư là năng lực triển khai của doanh nghiệp. Một dự án có thể rất tốt trên giấy, nhưng hiệu quả thực tế phụ thuộc vào năng lực quản lý, tổ chức thực hiện và khả năng duy trì việc kiểm chứng, giám sát chất lượng sau khi dự án đi vào vận hành.

Theo ông Tùng, các yếu tố này cần được xem xét tổng thể, từ chất lượng tín chỉ, hiệu quả kinh tế, tính bền vững đến khả năng sinh lời và duy trì dự án lâu dài. Bên cạnh đó, quy mô dự án cũng rất quan trọng.

Chẳng hạn, với dự án carbon từ rừng, VinaCarbon đánh giá quy mô tối thiểu khoảng 5.000 ha mới có thể đạt hiệu quả kinh tế. “Doanh nghiệp không nên chỉ nhìn tín chỉ carbon như một nguồn thu, mà cần xây dựng dự án có nền tảng kinh tế vững chắc, khả năng mở rộng và duy trì lâu dài”.

Theo PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Việt Nam là một trong những quốc gia sớm đưa ra cam kết NetZero vào năm 2050, trước nhiều đối tác và đối thủ cạnh tranh như Brazil, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Ukraine và Nga.

Lợi thế này càng được củng cố khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt nền tảng pháp lý cho việc phát triển thị trường carbon. Đến ngày 29/6 vừa qua, thị trường carbon Việt Nam chính thức đi vào hoạt động, tạo tiền đề để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào thị trường carbon trong nước và quốc tế.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) để phát triển thị trường, tiêu biểu là việc hỗ trợ phát hành những tín chỉ carbon rừng đầu tiên.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-145606_251

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ (giữa), Phó Viện trưởng Viện chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Trần Phi.

Tuy nhiên, chặng đường phía trước vẫn còn nhiều thách thức. Dù đã ký các thỏa thuận hợp tác về chuyển giao tín chỉ carbon với Singapore và Nhật Bản, quá trình chuyển giao tín chỉ ra quốc tế vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Mặt khác, các yêu cầu về giảm phát thải, báo cáo phát triển bền vững và trách nhiệm môi trường trong chuỗi cung ứng ngày càng tạo sức ép lớn đối với doanh nghiệp.

“Các quy định của Liên minh châu Âu (EU) về báo cáo phát triển bền vững và trách nhiệm của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng đang ngày càng khắt khe. Trong đó, hai cơ chế quốc tế có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp Việt Nam là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và Cơ chế giảm và bù đắp carbon cho hàng không quốc tế (CORSIA)”, PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ cho biết thêm.

Đối với CBAM, các lĩnh vực như thép, xi măng, nhôm, điện và hydro chịu tác động trực tiếp. Việc phát triển thị trường carbon trong nước sẽ giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện các yêu cầu giảm phát thải, đồng thời tạo điều kiện để giá trị từ hoạt động giảm phát thải được giữ lại và lưu chuyển trong nền kinh tế Việt Nam. Với hàng không, CORSIA sẽ tạo thêm nhu cầu lớn đối với tín chỉ carbon.

Từ năm 2028, các hãng hàng không Việt Nam tham gia cơ chế này sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bù trừ phát thải nếu chưa chuyển đổi sang các giải pháp nhiên liệu và công nghệ phát thải thấp. Theo ước tính được đưa ra, Việt Nam có thể thiếu khoảng 2,3 triệu tín chỉ carbon, tương đương nhu cầu tài chính khoảng 92 triệu USD nếu giá tín chỉ ở mức 40 USD/tấn.

“Áp lực cũng chính là động lực và cơ hội. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng kế hoạch giảm phát thải và chuẩn bị phương án bù trừ tín chỉ carbon, qua đó đáp ứng các yêu cầu quốc tế và tận dụng cơ hội từ thị trường carbon đang hình thành”, ông cho biết.

Xây dựng hệ thống biểu mẫu quản lý chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải

Theo ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon - Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), để chuẩn bị cho việc triển khai cơ chế cấp phép và quản lý chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải theo Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris, Việt Nam đang tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng hệ thống biểu mẫu quản lý và tăng cường hợp tác quốc tế.

Về khuôn khổ pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước thời gian qua đã từng bước hoàn thiện các quy định cần thiết, tạo nền tảng cho các bên tham gia trao đổi, chuyển giao tín chỉ carbon. Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tích cực tham vấn, trao đổi để sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác quản lý.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-145302_469

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon - Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Trần Phi.

Các biểu mẫu được xây dựng theo hướng vừa đáp ứng yêu cầu của pháp luật trong nước, vừa hài hòa với các quy định và thông lệ quốc tế, qua đó cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết cho doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch với các đối tác nước ngoài.

Song song với hoàn thiện thể chế, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho hoạt động chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải. Việt Nam đã có những thỏa thuận bước đầu với các đối tác quốc tế và đang tiếp tục trao đổi, đàm phán với một số quốc gia, trong đó hướng tới Singapore và Nhật Bản.

Đây được xem là những bước chuẩn bị quan trọng để Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào các cơ chế hợp tác theo Điều 6.2, mở rộng cơ hội trao đổi tín chỉ carbon nhưng vẫn bảo đảm các mục tiêu giảm phát thải của quốc gia. Một nhiệm vụ quan trọng khác là nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Thành Công, do hoạt động trao đổi tín chỉ carbon vẫn là lĩnh vực tương đối mới, việc cung cấp thông tin, hướng dẫn và tập huấn cho doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cục Biến đổi khí hậu đang phối hợp với các cơ quan truyền thông và các đơn vị liên quan đẩy mạnh công tác truyền thông, tổ chức các chương trình tập huấn, chia sẻ thông tin về cơ chế, quy trình và những yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp khi tham gia thị trường carbon.

Mục tiêu của các hoạt động này không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về cơ hội và nghĩa vụ khi tham gia trao đổi tín chỉ carbon, mà còn góp phần bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp trong quá trình hợp tác với các đối tác quốc tế.

Đồng thời, việc quản lý chặt chẽ hoạt động chuyển giao kết quả giảm nhẹ phát thải cũng cần được thực hiện theo hướng hài hòa giữa yêu cầu thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển thị trường carbon và việc thực hiện cam kết về đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.

Muốn bán carbon rừng, trước hết phải đo được lượng hấp thụ

Theo ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đây là một trong những kinh nghiệm quan trọng rút ra từ quá trình triển khai chuyển nhượng kết quả giảm phát thải rừng tại Việt Nam.

Lâm nghiệp có lợi thế khi hệ thống điều tra, kiểm kê, theo dõi và công bố hiện trạng, diễn biến rừng đã được duy trì trong thời gian dài. Nền tảng dữ liệu này cho phép tính toán lượng giảm phát thải, sau đó đưa kết quả ra thẩm định với độ tin cậy cao.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-145001_637

Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Trần Phi. 

Thực tế tại Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ cho thấy, riêng kỳ báo cáo đầu tiên, Việt Nam đã chứng minh và được Ngân hàng Thế giới (WB) công nhận 16,2 triệu tấn CO2 giảm phát thải. Từ kết quả được xác nhận, Việt Nam sau đó thực hiện 2 lần chuyển nhượng tổng cộng 11,3 triệu tấn, thu về 56,5 triệu USD.

Con số này cho thấy diện tích rừng lớn hay khả năng hấp thụ carbon mới chỉ là tiềm năng. Để tạo được giá trị tài chính, lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải phải được lượng hóa bằng phương pháp phù hợp, có dữ liệu theo dõi và trải qua quá trình thẩm định, xác minh. Một điều kiện khác được ông Lượng nhấn mạnh là cơ chế chia sẻ lợi ích.

Kinh nghiệm từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng để thiết kế cách phân bổ nguồn thu carbon. Theo cơ chế áp dụng tại chương trình Bắc Trung Bộ, Trung ương giữ 3,5% phục vụ quản lý, cấp tỉnh giữ 10%, phần còn lại được chi trả cho chủ rừng và các đối tượng hưởng lợi. Việc quy định rõ cách phân chia giúp dòng tiền được giải ngân minh bạch, kịp thời.

Thực tế, nguồn thu từ chương trình đã được chi trả cho khoảng 80.000 chủ rừng, trong đó khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng. Kinh nghiệm này càng có ý nghĩa khi khung pháp lý về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng đang được hoàn thiện. Nghị định 180/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7, đặt ra yêu cầu các địa phương chuẩn bị dữ liệu, đánh giá hiện trạng và tiềm năng hấp thụ carbon của rừng.

9 bước phát triển dự án carbon theo hướng dẫn của IFC

Nhằm hệ thống hóa các yêu cầu, quy định được nêu trong Nghị định số 112/2026/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan theo cách dễ hiểu, dễ áp dụng, IFC đang xây dựng Sổ tay hướng dẫn tham gia thị trường carbon.

Sổ tay hướng tới nhiều nhóm đối tượng, từ chủ dự án, cơ quan quản lý, tổ chức tài chính đến người mua, người bán tín chỉ carbon. Nội dung nhằm hướng dẫn các bên tra cứu quy định, chuẩn bị hồ sơ và đưa ra quyết định trong quá trình phát triển, mua bán tín chỉ carbon.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-144425_133

Ông Neeraj Joshi, Chuyên gia trưởng Biến đổi Khí hậu, Khối Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC). Ảnh: Trần Phi.

Giới thiệu tại diễn đàn, ông Neeraj Joshi, Chuyên gia trưởng Biến đổi khí hậu, Khối Tư vấn Cải cách và Nghiên cứu Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương tại IFC cho biết một trong những nội dung quan trọng là xác định mức độ phù hợp của các dự án giảm phát thải với Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

Ông lưu ý về tính tương ứng, yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển giao tín chỉ và hiệu quả tài chính của dự án. Theo hướng dẫn, quy trình phát triển một dự án carbon có thể khái quát thành 9 bước, từ đánh giá tính khả thi, xây dựng đường cơ sở, xác định tính bổ sung, lập hồ sơ, lựa chọn đơn vị đánh giá độc lập, đăng ký, giám sát, thẩm tra đến phát hành tín chỉ và xin chấp thuận chuyển giao. Đáng chú ý, tính bổ sung và tính bền vững được xác định là hai yêu cầu quan trọng.

“Mục tiêu không chỉ là hình thành một thị trường carbon, mà phải tạo ra các tín chỉ carbon có độ tin cậy và tính toàn vẹn cao, qua đó thu hút nguồn tài chính carbon vào Việt Nam, thúc đẩy tăng trưởng xanh và góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero”, ông định hướng.

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-144513_981

Các đại biểu đại diện cho cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị nghiên cứu, tổ chức quốc tế... tham gia Tọa đàm chủ đề: Trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon theo Điều 6.2 và các khuôn khổ hợp tác song phương. Ảnh: Trần Phi.

Đối với các dự án có sự tham gia của cộng đồng, nguyên tắc đồng thuận FPIC và việc xác định rõ quyền đối với tín chỉ carbon, cơ chế phân chia lợi ích cũng cần được thống nhất ngay từ đầu. Sổ tay dành riêng một chương hướng dẫn sàng lọc dự án theo 4 khía cạnh: pháp lý, thương mại, kỹ thuật và các bên liên quan giúp chủ dự án xác định các yêu cầu cần đáp ứng và chuẩn bị hồ sơ phù hợp.

Bên cạnh đó, sổ tay hướng dẫn về quản trị dự án, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra (MRV), các lợi ích đồng thời, biện pháp bảo vệ môi trường - xã hội, cơ chế giải quyết khiếu nại và cách lượng hóa đóng góp cho các mục tiêu phát triển bền vững.

Ông Neeraj Joshi cho rằng các dự án bảo đảm chất lượng, tính toàn vẹn và minh bạch sẽ có nhiều cơ hội hơn trong tiếp cận nguồn vốn và thu hút người mua. Về tài chính, hiệu quả dự án không chỉ phụ thuộc vào giá tín chỉ carbon mà còn chịu tác động bởi tỷ lệ được phép chuyển giao, chi phí xin chấp thuận, chi phí giao dịch, cơ chế chia sẻ doanh thu, nghĩa vụ thuế và thời điểm dòng tiền.

Các yếu tố này cần được đưa vào mô hình tài chính ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án để có cơ sở quyết định đầu tư. Theo chuyên gia của IFC, thị trường carbon Việt Nam đang chuyển từ xây dựng khung pháp lý sang hành động.

Việc đã có quy định pháp luật, triển khai đấu giá thí điểm và hình thành thị trường tuân thủ đang tạo những tín hiệu tích cực. Khu vực tư nhân theo đó cần chủ động phối hợp với cơ quan quản lý để chuẩn bị dự án, hướng tới đưa các dự án vào vận hành từ năm 2029.

“Dự kiến sẽ có thêm các ngành, lĩnh vực tham gia tạo thêm dư địa cho thị trường, hợp tác quốc tế”, đại diện IFC chia sẻ. Sổ tay hiện đang được hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các cơ quan quản lý. IFC kỳ vọng tài liệu này sẽ trở thành công cụ thực tiễn, giúp chủ dự án và các bên tham gia thị trường hiểu rõ quy định, giảm rủi ro và từng bước đưa các dự án carbon vào thực tế.

3 cơ chế chuyển giao tín chỉ carbon quốc tế

Giới thiệu về Nghị định số 112/2026/NĐ-CP - Khung pháp lý về trao đổi quốc tế, kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon của Việt Nam, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu cho biết: Khi một nhà đầu tư quyết định phát triển dự án tạo tín chỉ carbon, việc xác định rõ đầu ra là yếu tố tiên quyết.

Bên cạnh thị trường carbon trong nước, các dự án còn có phương án trao đổi kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon với các đối tác quốc tế. Khi tham gia trao đổi trên thị trường quốc tế, cần phân biệt rõ hai khái niệm cơ bản:

Thứ nhất là trao đổi có sự chấp thuận của Chính phủ: Đối với các tín chỉ carbon này, Chính phủ Việt Nam có trách nhiệm thực hiện điều chỉnh tương ứng tức là hạch toán hoặc khấu trừ khỏi mục tiêu Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC).

thao-luan-ve-nguyen-tac-va-dieu-kien-trao-doi-tin-chi-carbon-quoc-te-142549_93

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu (DCC) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giới thiệu về Nghị định số 112/2026/NĐ-CP. Ảnh: Trần Phi.

Thứ hai là trao đổi quốc tế không cần sự chấp thuận của Chính phủ: Các tín chỉ này khi giao dịch ra quốc tế, kết quả giảm phát thải vẫn được tính vào mục tiêu NDC của Việt Nam và Chính phủ không phải hạch toán trừ đi.

Ông Công nhấn mạnh, trên thị trường carbon, dù cùng một loại tín chỉ nhưng giá tín chỉ có sự chấp thuận của Chính phủ sẽ cao hơn nhiều. Xuất phát từ thực tiễn và các quy định của Thỏa thuận Paris, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 112/2026/NĐ-CP nhằm quản lý các hoạt động trao đổi, chuyển giao tín chỉ carbon với đối tác quốc tế.

Theo nghị định, có 3 phương án chuyển giao quốc tế để doanh nghiệp chủ động lựa chọn: Cơ chế hợp tác song phương theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris; Cơ chế tập trung toàn cầu theo Điều 6.4 Thỏa thuận Paris; và cơ chế theo các tiêu chuẩn carbon độc lập.

Để tạo điều kiện cho các dự án này có thể chuyển giao quốc tế kèm thư chấp thuận của Chính phủ, Nghị định 112 quy định các bước sàng lọc chặt chẽ: phương pháp luận áp dụng phải nằm trong danh mục được công nhận, phù hợp với ưu tiên quốc gia và tuân thủ quy trình thẩm định, lấy ý kiến các bộ, ngành trước khi cấp phép chuyển giao.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, bài toán đặt ra là vừa phải khuyến khích thu hút nguồn vốn, công nghệ cao để giảm phát thải, vừa phải kiểm soát lượng tín chỉ chuyển giao ra nước ngoài để không làm tổn hại đến việc thực hiện cam kết NDC.

Do đó, Nghị định 112 đã quy định rõ hạn mức chuyển giao quốc tế tối đa: Danh mục dự án ưu tiên (tỷ lệ chuyển giao tối đa 90%) áp dụng cho các lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi nguồn vốn lớn và mới bắt đầu triển khai tại Việt Nam; Danh mục dự án khuyến khích (tỷ lệ chuyển giao tối đa 50%) áp dụng cho các biện pháp giảm phát thải đã phổ biến hoặc đã được triển khai rộng rãi tại Việt Nam.

Quy định phân bổ tỷ lệ này vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa bảo đảm an toàn mục tiêu NDC, đồng thời tạo lập nguồn cung tín chỉ dồi dào cho thị trường nội địa. Ngoài ra, Nghị định 112 cũng quy định tiếp nhận tín chỉ và kết quả giảm phát thải từ quốc tế về Việt Nam.

Về nguyên tắc, Việt Nam hoan nghênh luồng tín chỉ này, với điều kiện dự án phải có văn bản chấp thuận chuyển giao chính thức từ chính phủ nước sở tại để đủ tính pháp lý hạch toán vào NDC của Việt Nam.

Xem thêm
Việt Nam - Anh thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng tiếp Đại sứ Anh Iain Frew, trao đổi về hợp tác nông nghiệp, môi trường, thương mại nông lâm thủy sản và ứng phó biến đổi khí hậu.

Hướng tới rút ngắn quy trình cấp tín chỉ carbon