Chủ Nhật 02/08/2026, 13:31 (GMT+7)
Chủ Nhật 02/08/2026, 13:31 (GMT+7)

Tận dụng lợi thế, cà phê Việt chinh phục EUDR

Được EU xếp vào nhóm rủi ro thấp, cà phê Việt Nam có thêm thuận lợi để mở rộng truy xuất, chủ động thích ứng EUDR và giữ vững thị trường xuất khẩu quan trọng.

Nắm lợi thế rủi ro thấp

Số liệu thống kê từ Cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 1,05 triệu tấn cà phê, thu về 4,81 tỷ USD, tăng 7,4% về lượng nhưng giảm 13,8% về trị giá do giá bình quân giảm.

Châu Âu tiếp tục là khu vực xuất khẩu trọng điểm. Riêng Đức, Italy, Tây Ban Nha, Bỉ và Hà Lan đã nhập khẩu hơn 409.700 tấn cà phê Việt Nam, trị giá khoảng 1,735 tỷ USD. Lượng xuất khẩu sang Đức, Italy, Tây Ban Nha và Bỉ đều tăng so với cùng kỳ.

Thu hoạch cà phê chín tại vùng nguyên liệu, khâu quan trọng trong chuỗi truy xuất từ vườn trồng đến sản phẩm xuất khẩu. Ảnh: Vĩnh Hiệp.

Thu hoạch cà phê chín tại vùng nguyên liệu, khâu quan trọng trong chuỗi truy xuất từ vườn trồng đến sản phẩm xuất khẩu. Ảnh: Vĩnh Hiệp.

Việt Nam là đối tác xuất khẩu nông sản lớn thứ 12 vào EU, cho thấy nông sản Việt đã tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng và tiêu dùng của thị trường này. Đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) là điều kiện để cà phê Việt Nam tiếp tục duy trì thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Theo đó, cà phê đưa vào EU phải chứng minh không liên quan đến phá rừng, được sản xuất hợp pháp và có thông tin truy xuất đến vùng sản xuất.

EUDR được áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn và vừa; từ ngày 30/6/2027 đối với phần lớn doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ. Việt Nam có lợi thế khi được EU xếp vào nhóm quốc gia rủi ro thấp, qua đó hàng hóa có xuất xứ Việt Nam được áp dụng cơ chế thẩm định đơn giản hơn, song vẫn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu truy xuất.

Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), ngay từ khi EUDR có hiệu lực pháp lý vào năm 2023, các Bộ, ngành đã xây dựng lộ trình triển khai cho các địa phương và doanh nghiệp.

Quá trình chuẩn bị sớm đã giúp một bộ phận vùng nguyên liệu và chuỗi cung ứng cà phê từng bước hoàn thiện dữ liệu, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu mới của thị trường châu Âu.

“Việt Nam có lợi thế khi được EU xếp vào nhóm quốc gia có rủi ro thấp. Hiện các khách hàng nước ngoài đang quan tâm và tìm mua nguồn cà phê Việt Nam có khả năng đáp ứng EUDR”, ông Hải nhận định.

Theo Chủ tịch Vicofa, một số nguồn hàng đáp ứng yêu cầu đang được người mua chấp nhận mức giá cao hơn thị trường khoảng 50 USD/tấn. Dù mức chênh lệch có thể thay đổi theo từng thời điểm, từng giao dịch, diễn biến này cho thấy tính minh bạch của nguồn hàng đang dần được chuyển hóa thành giá trị thương mại.

“Vị thế rủi ro thấp cùng sự quan tâm của khách hàng quốc tế mở ra cơ hội để cà phê Việt Nam duy trì thị phần tại EU khi quy định mới được áp dụng. Khả năng đáp ứng yêu cầu bền vững có thể giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh, giữ khách hàng dài hạn và tạo thêm cơ sở đàm phán cho nguồn hàng có dữ liệu rõ ràng”, ông Hải thông tin.

Cà phê sau thu hoạch được sơ chế và kiểm soát chất lượng trước khi đưa vào chế biến. Ảnh: Vĩnh Hiệp.

Cà phê sau thu hoạch được sơ chế và kiểm soát chất lượng trước khi đưa vào chế biến. Ảnh: Vĩnh Hiệp.

Mở rộng nền tảng truy xuất

Theo ước tính của Vicofa, khoảng 35-40% nguồn cà phê hiện có khả năng đáp ứng các yêu cầu của EUDR. Đây là nền tảng để ngành tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu và chuỗi cung ứng đáp ứng yêu cầu trước thời điểm quy định được áp dụng.

Ông Nguyễn Nam Hải cho rằng, sản xuất cà phê trong nước chủ yếu dựa trên các hộ quy mô nhỏ, còn quá trình thu mua có sự tham gia của hợp tác xã, đại lý và thương lái. Do đó, truy xuất không thể chỉ thực hiện tại vùng trồng hoặc khâu xuất khẩu mà cần được triển khai trong toàn bộ hệ thống.

Thông tin về lô đất, người sản xuất, quá trình thu mua, phân loại, lưu kho và chế biến cần được liên kết với từng lô hàng xuất khẩu. Nguồn nguyên liệu đáp ứng EUDR cũng cần được nhận diện và phân tách ngay từ điểm thu mua, bảo đảm dữ liệu nguồn gốc được duy trì khi cà phê đi qua các khâu trung gian.

“Khi toàn bộ hệ thống cùng tham gia, khả năng truy xuất sẽ không bị đứt đoạn từ vùng trồng đến lô hàng xuất khẩu. Về lâu dài, nền tảng này không chỉ phục vụ EUDR mà còn hỗ trợ quản lý chất lượng, tăng liên kết chuỗi và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững trên thế giới”, ông Hải nhấn mạnh.

Ông Hải đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục triển khai lộ trình thực hiện EUDR đến các địa phương, doanh nghiệp và tổ chức liên quan. Hợp tác xã, đại lý và thương lái cần được đưa vào hệ thống truy xuất, trong khi hộ sản xuất nhỏ cần được hỗ trợ lập bản đồ, lưu trữ hồ sơ và sử dụng nền tảng số.

Tin liên quan

Tin tức