Hơn 18.000 hạt vi nhựa trong mỗi mét khối nước
Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cho thấy vi nhựa xuất hiện phổ biến dọc tuyến sông Tô Lịch, đặc biệt tại các khu vực tiếp nhận nước thải sinh hoạt và dòng chảy đô thị.
Các cán bộ nghiên cứu thu thập mẫu bùn trầm tích đáy sông Tô Lịch. Ảnh: Diệu Linh.
Đây là kết quả từ dự án “Mô hình hóa quá trình tích tụ vi nhựa trong trầm tích đáy sông Tô Lịch” do TS. Phạm Diệu Linh, nghiên cứu viên Phòng Địa chất Thủy văn, Địa chất công trình và Địa chất Môi trường chủ trì. Dự án được triển khai trong khuôn khổ Chương trình Đổi mới sáng tạo Mảng Nhựa (PIP) do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ.
Theo nhóm nghiên cứu, vi nhựa không còn là dạng ô nhiễm xa lạ trong môi trường đô thị, nhưng đây là lần đầu tiên quá trình tích tụ và lan truyền vi nhựa tại sông Tô Lịch được khảo sát, mô phỏng tương đối đầy đủ bằng các mô hình thủy động lực.
Để đánh giá hiện trạng ô nhiễm, nhóm nghiên cứu đã thu thập 28 mẫu nước mặt và 28 mẫu trầm tích tại 14 vị trí dọc sông Tô Lịch trong cả mùa mưa và mùa khô. Kết quả cho thấy vi nhựa xuất hiện dưới nhiều dạng như sợi, mảnh vỡ, màng nhựa hay hạt nhỏ. Trong đó, dạng sợi chiếm ưu thế rõ rệt.
Tại nhiều điểm xả, nồng độ vi nhựa trong nước dao động từ 3.500 đến 18.000 hạt hoặc sợi trong mỗi mét khối nước. Những khu vực có mật độ cao thường nằm gần các cửa xả tiếp nhận nước thải hỗn hợp từ khu dân cư và hệ thống cống tràn đô thị.
Không chỉ tồn tại trong nước, vi nhựa còn tích tụ với mật độ cao hơn nhiều trong lớp bùn đáy sông. Các mẫu trầm tích ghi nhận đồng thời sợi vi nhựa, mảnh nhựa phân rã và vật liệu polymer màu tối - dấu vết đặc trưng của môi trường đô thị chịu tác động mạnh từ nước thải sinh hoạt và giao thông.
Theo TS. Phạm Diệu Linh, điểm đáng lo ngại nhất của vi nhựa nằm ở khả năng tồn lưu rất lâu trong môi trường. “Khác với nhiều chất ô nhiễm hòa tan trong nước, vi nhựa có thể lắng xuống đáy và tích tụ nhiều năm trong lớp bùn trầm tích. Khi xảy ra mưa lớn, nạo vét hoặc dòng chảy biến động mạnh, chúng có thể bị khuấy lên và phát tán trở lại cột nước”, TS. Linh cho biết.
Cán bộ nghiên cứu đo các thông số thủy văn ở một cống chạy tràn dọc sông Tô Lịch. Ảnh: Mai Đan.
Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận, trước khi hệ thống thu gom nước thải Yên Xá vận hành đồng bộ, dọc hai bên sông từng tồn tại hơn 200 cửa xả trực tiếp đưa nước thải sinh hoạt và nước mưa chưa xử lý ra sông. Mỗi ngày, tuyến sông này tiếp nhận khoảng 150.000m³ nước thải đô thị.
TS. Phạm Diệu Linh cho rằng, với đặc điểm dòng chảy chậm, hàm lượng hữu cơ cao và quá trình bồi lắng kéo dài, sông Tô Lịch gần như trở thành một “bể chứa” vi nhựa của đô thị Hà Nội.
Giám sát vi nhựa bằng dữ liệu dài hạn
Điểm mới đáng chú ý của nghiên cứu là việc ứng dụng mô hình MIKE 21 HD và MIKE 21 PT để mô phỏng quá trình lan truyền vi nhựa trên sông Tô Lịch.
Theo mô hình, vào mùa mưa, lưu lượng dòng chảy tăng mạnh khiến khả năng khuếch tán vi nhựa cao hơn nhiều so với mùa khô. Lưu lượng mùa mưa có thể đạt khoảng 6,2m³/giây, trong khi mùa khô chỉ khoảng 1,1m³/giây.
Thông qua việc ứng dụng mô hình thủy động lực và mô hình lan truyền vi nhựa, nhóm nghiên cứu bước đầu xác định được các khu vực có nguy cơ tích tụ vi nhựa cao, đặc biệt tại những đoạn sông tiếp nhận nước thải sinh hoạt và các cửa xả đô thị lớn.
Theo TS. Phạm Diệu Linh, đây là cơ sở quan trọng giúp cơ quan quản lý xác định các “điểm nóng” ô nhiễm vi nhựa; ưu tiên giám sát và kiểm soát nguồn thải; hỗ trợ quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị; đồng thời đánh giá rủi ro môi trường trong quá trình cải tạo, nạo vét sông hồ nội đô.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phần lớn mẫu thuộc hai nhóm vật liệu chính là Polyester và Polyurethane (PU). Trong đó, nhựa PET xuất hiện với tần suất lớn ở nhiều mẫu phân tích.
TS. Phạm Diệu Linh đánh giá, điều này cho thấy nguồn phát sinh vi nhựa trong môi trường đô thị rất đa dạng, không chỉ đến từ rác thải sinh hoạt mà còn liên quan tới giao thông, xây dựng, vật liệu công nghiệp và các hoạt động dịch vụ ven sông.
Quá trình xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm tại Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản. Ảnh: Diệu Linh.
Các chuyên gia cảnh báo, nguy cơ của vi nhựa không chỉ nằm ở kích thước nhỏ mà còn ở khả năng hấp phụ kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ bền vững. Khi đi vào môi trường nước, chúng có thể trở thành “phương tiện vận chuyển” độc chất trong hệ sinh thái thủy sinh.
Theo TS. Phạm Diệu Linh, bên cạnh việc hoàn thiện và vận hành hiệu quả các nhà máy xử lý nước thải tập trung như hệ thống Yên Xá, Hà Nội cần đồng thời triển khai nhiều giải pháp giảm phát thải vi nhựa ngay từ nguồn.
Trong đó chú trọng giảm sử dụng nhựa dùng một lần; tăng cường phân loại và thu gom rác thải nhựa; kiểm soát vi sợi tổng hợp phát sinh từ hoạt động giặt rửa; hạn chế thất thoát rác nhựa từ hệ thống thoát nước đô thị; đồng thời tăng cường quan trắc vi nhựa trong nước mặt, trầm tích và bùn nạo vét.
TS. Linh cũng đề xuất Hà Nội cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu dài hạn về vi nhựa trong các hệ thống sông nội đô nhằm theo dõi xu hướng tích tụ theo thời gian, đồng thời đánh giá hiệu quả của các giải pháp kiểm soát ô nhiễm nhựa.
Nghiên cứu của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản không chỉ dừng ở việc phát hiện vi nhựa dưới đáy sông Tô Lịch mà còn mở ra cơ sở khoa học phục vụ quản lý ô nhiễm đô thị trong tương lai.





![Cuộc chiến chống ô nhiễm không khí: [Bài 7] Đề nghị lập Ủy ban quản lý thuộc Chính phủ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/minhtt89/2026/05/27/4524-chi-tuyet-nongnghiep-154518.jpeg)

![Bảo tồn đa dạng sinh học: [Bài cuối] Giữ mảng xanh trước áp lực đô thị hóa](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/minhtt89/2026/05/27/3306-2aoboqxoxro8d6huu4nod75rra6yuxinlp9ufyyk4-102022_628-nongnghiep-173300.jpg)



![Cuộc chiến chống ô nhiễm không khí: [Bài 6] Cần ‘nhạc trưởng’ điều phối](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/thuynt91/2026/05/25/4253-f3cece90-b2da-450e-acc0-495e5b584b14-nongnghiep-094249.jpeg)












