Đó cũng là vấn đề xuyên suốt tại cuộc họp góp ý hoàn thiện Dự thảo Quy trình sản xuất lúa giảm phát thải và Quy trình MRV (đo đạc, báo cáo và thẩm định giảm phát thải) sáng 11/5. Nhiều ý kiến cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ hay phương pháp tính toán, mà ở khả năng triển khai thực tế ngoài đồng ruộng.
“Về mặt khoa học có thể đúng, nhưng xuống địa phương có làm được không?”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đặt vấn đề.
Thứ trưởng Hoàng Trung chủ trì phiên họp hoàn thiện Dự thảo Quy trình sản xuất lúa giảm phát thải và Quy trình MRV. Ảnh: Bảo Thắng.
Theo ông, nếu quy trình được xây dựng quá phức tạp, yêu cầu nhiều biểu mẫu, thao tác kỹ thuật hoặc cơ chế giám sát rườm rà thì rất khó áp dụng trên diện rộng, đặc biệt trong điều kiện sản xuất lúa ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, phân tán và chênh lệch lớn giữa các vùng sinh thái.
“Đưa ra mà địa phương không tổ chức thực hiện được thì coi như thất bại”, Thứ trưởng nói.
Áp lực xây dựng quy trình giảm phát thải cho lúa hiện nay đến từ nhiều chương trình lớn mà ngành nông nghiệp đang triển khai. Trong đó đáng chú ý nhất là Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh tại ĐBSCL đến năm 2030.
Theo kế hoạch, đề án sẽ tổ chức lại sản xuất trên khoảng 1 triệu ha lúa tại vùng ĐBSCL, áp dụng đồng bộ các biện pháp canh tác giảm phát thải như quản lý nước, giảm lượng giống gieo sạ, tối ưu phân bón, cơ giới hóa và xử lý rơm rạ sau thu hoạch. Đây được xem là mô hình trọng điểm để Việt Nam từng bước tham gia thị trường carbon trong ngành hàng lúa gạo.
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang phối hợp địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp triển khai Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn 2050. Trong đề án này, lúa tiếp tục là ngành hàng ưu tiên do phát thải methane từ ruộng ngập nước chiếm tỷ trọng lớn trong phát thải nông nghiệp.
Theo các nghiên cứu quốc tế, canh tác lúa hiện chiếm khoảng một nửa lượng phát thải khí nhà kính của toàn ngành nông nghiệp Việt Nam, chủ yếu từ methane phát sinh trong điều kiện ruộng ngập nước kéo dài. Vì vậy, quản lý nước được xem là giải pháp trọng tâm nếu muốn giảm phát thải trong ngành lúa gạo. Đây cũng là nội dung cốt lõi trong dự thảo quy trình sản xuất đang được lấy ý kiến.
Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Thị Thu Hương cho biết, dự thảo đề xuất áp dụng biện pháp tưới ướt khô xen kẽ (AWD) từ khoảng 20 ngày sau gieo sạ đến trước trỗ bông 10 ngày. Trong mỗi vụ, ruộng cần được rút nước tối thiểu hai lần, mỗi lần khô liên tục ít nhất 3 ngày để giảm phát thải methane.
Ba giai đoạn không được rút nước cũng được quy định rõ, gồm thời kỳ đầu sau gieo sạ để hạn chế cỏ dại và chuột, giai đoạn trước và sau trỗ nhằm bảo đảm thụ phấn, cùng thời điểm sau bón phân để hạn chế phát thải N2O.
Thứ trưởng Hoàng Trung: Quy trình phải ngắn, dễ tổ chức thực hiện và người dân làm được. Ảnh: Bảo Thắng.
Theo bà Hương, dự thảo quy trình sản xuất lúa giảm phát thải được xây dựng theo hướng bao phủ toàn bộ chu trình canh tác, từ làm đất, giống, quản lý nước, phân bón đến xử lý rơm rạ sau thu hoạch. Tuy nhiên, việc triển khai sẽ theo lộ trình từng bước, trên cơ sở đăng ký của các địa phương và tiếp tục điều chỉnh để phù hợp điều kiện thực tế từng vùng.
Dù vậy, nhiều ý kiến tại cuộc họp cho rằng thách thức lớn nhất không nằm ở việc xây dựng quy trình kỹ thuật, mà ở hệ thống MRV - nền tảng để xác nhận lượng giảm phát thải thực tế.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp và tổ chức quốc tế đang tham gia các dự án lúa giảm phát thải tại Việt Nam đã xây dựng quy trình MRV riêng. Điều này khiến nguy cơ phân mảnh dữ liệu và thiếu thống nhất trong xác nhận giảm phát thải ngày càng rõ, nhất là khi Việt Nam bắt đầu hướng tới thị trường carbon.
Theo Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp Mai Văn Trịnh, nếu thực hiện đo methane trực tiếp ngoài ruộng trên diện rộng, chi phí sẽ rất lớn. Trong khi đó, nếu quy trình MRV yêu cầu quá nhiều biểu mẫu, nhập liệu hoặc kiểm tra liên tục thì nông dân và địa phương khó có thể tuân thủ.
“MRV phải đủ tin cậy để phục vụ kiểm kê và xác nhận giảm phát thải, nhưng đồng thời cũng phải đủ đơn giản để địa phương và người dân thực hiện được”, ông nói.
Theo ông Trịnh, hệ thống MRV do Viện xây dựng gồm 5 bước và 3 cấp thực hiện. Trong đó, đơn vị triển khai dự án hoặc tổ chức tư vấn sẽ thực hiện thu thập dữ liệu ban đầu; cấp xã tổng hợp diện tích và thông tin sản xuất; sau đó dữ liệu được chuyển lên Sở Nông nghiệp và Môi trường trước khi cập nhật vào hệ thống tập trung do Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật quản lý.
Mô hình trồng lúa giảm phát thải tại xã Ứng Hoà, Hà Nội. Ảnh: Phùng Lương.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Hoàng Trung, điều quan trọng không chỉ là phương pháp tính toán mà còn là cơ chế tổ chức thực hiện sau khi quy trình được ban hành.
Ông lưu ý cần làm rõ trách nhiệm của từng cấp trong xác nhận, thẩm định và quản lý dữ liệu giảm phát thải. Địa phương phải là nơi tổ chức triển khai, hướng dẫn, giám sát và tổng hợp diện tích thực hiện; còn Bộ và các đơn vị chuyên môn chịu trách nhiệm hướng dẫn, thẩm định và kết nối dữ liệu phục vụ quản lý thống nhất.
“Người dân không thể tự đo đếm phát thải, mà phải thực hiện đúng quy trình dưới sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn”, ông nói.
Theo Thứ trưởng, nếu xây dựng một quy trình chung cho toàn quốc thì phải đủ linh hoạt để các địa phương có thể vận dụng theo điều kiện sinh thái và tập quán canh tác riêng. Đồng bằng sông Hồng, miền Trung, miền núi phía Bắc hay ĐBSCL không thể áp dụng máy móc giống nhau.
Ông cũng cho rằng trước mắt chưa nên đặt mục tiêu quá cao về tín chỉ carbon hay các cơ chế tài chính phức tạp, mà cần tập trung xây dựng được quy trình khả thi, dễ hiểu, dễ triển khai và có dữ liệu đủ tin cậy. “Làm được đến đâu chắc đến đó”, Thứ trưởng lưu ý.
Để triển khai nhanh chóng, hiệu quả khi 2 quy trình được ban hành, Thứ trưởng Hoàng Trung giao Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp các đơn vị chuyên môn và địa phương tổ chức tập huấn ở cấp cơ sở. Theo ông, đây là lực lượng gần nông dân nhất, có vai trò trực tiếp trong đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật và trở thành cầu nối giữa cơ quan quản lý với người sản xuất.
Dự thảo quy trình sản xuất lúa giảm phát thải khuyến khích các giống có thời gian sinh trưởng ngắn, bộ lá gọn và sinh khối rễ lớn. Lượng giống gieo sạ được quy định theo từng vùng sinh thái, trong đó Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng không quá 40 kg/ha, các vùng còn lại không quá 80 kg/ha.
Đối với rơm rạ sau thu hoạch, dự thảo lưu ý không đốt ngoài đồng. Thay vào đó, rơm rạ được thu gom để sản xuất nấm, phân hữu cơ hoặc than sinh học. Trường hợp không thể thu gom, rơm rạ cần được cày vùi sớm kết hợp chế phẩm sinh học.

















