Tận dụng hạ tầng để phát triển H₂ phát thải thấp
Trong quá trình chuyển dịch năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, việc chuyển đổi, tích hợp hoặc sử dụng một phần hạ tầng sẵn có có thể giúp giảm chi phí đầu tư, rút ngắn thời gian triển khai. Với Tổng Công ty khí Việt Nam (PV GAS), lợi thế này đến từ hệ thống hạ tầng khí được đầu tư qua nhiều năm gồm: Đường ống vận chuyển, hành lang tuyến ống, kho chứa, cơ sở xử lý khí và các công trình phụ trợ.
PV GAS sở hữu hệ thống hạ tầng công nghiệp khí với tổng chiều dài trên 1.500 km đường ống trên cả nước, tiêu biểu như: Đường ống Cửu Long dài gần 390 km, công suất thiết kế 2 tỷ m³ khí/năm; hệ thống Nam Côn Sơn dài trên 400 km, công suất thiết kế 7 tỷ m³ khí/năm…
Cùng với đường ống, PV GAS đang hình thành hạ tầng nhập khẩu và tái hóa khí LNG tại Thị Vải và Sơn Mỹ. LNG được nhập khẩu bằng tàu, lưu trữ trong các bồn chứa, sau đó tái hóa khí và đưa vào hệ thống đường ống để cung cấp cho khách hàng. Những công trình này trước hết phục vụ chuỗi cung ứng khí tự nhiên và LNG. Tuy nhiên, trong dài hạn, một phần hạ tầng phù hợp có thể được nghiên cứu để phục vụ các loại năng lượng mới, từ hydrogen đến ammonia và các sản phẩm xanh khác.
Nhà máy chế biến khí Dinh Cố - một trong các đơn vị trực thuộc PV GAS. Ảnh: PV GAS.
Hydrogen đang được xem là một trong những cấu phần có thể đóng vai trò trong quá trình chuyển dịch sang hệ thống năng lượng phát thải thấp. Tuy nhiên, để hydrogen có thể phát triển ở quy mô lớn, bài toán không chỉ nằm ở công nghệ sản xuất mà còn bao gồm vận chuyển, tồn chứa, phân phối và thị trường tiêu thụ.
Đây là những lĩnh vực PV GAS đang nghiên cứu. Doanh nghiệp làm đầu mối nghiên cứu các phương án sản xuất, tồn chứa, phân phối và sử dụng H₂ phát thải thấp, đồng thời tìm kiếm, đánh giá và phát triển thị trường tiêu thụ, xuất khẩu loại năng lượng này.
Các hướng công nghệ được nghiên cứu khá đa dạng, gồm H₂ xanh và H₂ lam; công nghệ điện phân, CCS/CCUS; các phương án vận chuyển, tồn chứa H₂ bằng đường ống, xe bồn áp suất cao ở thể khí, hóa lỏng H₂ hoặc hấp phụ H₂ trong chất mang thể rắn.
Theo lãnh đạo PV GAS, kết quả đánh giá cho thấy phương án tận dụng hạ tầng đường ống vận chuyển khí tự nhiên hiện hữu để vận chuyển H₂ có tính khả thi về kỹ thuật, đồng thời có thể giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Định hướng của PV GAS không dừng ở việc vận chuyển và cung cấp H₂. Doanh nghiệp đang nghiên cứu phát triển các dự án H₂ cùng với các dự án nhập khẩu và phân phối LNG tại Việt Nam.
Một hướng được nghiên cứu là triển khai dự án thử nghiệm ở quy mô nhỏ, sản xuất và cung cấp H₂ xanh cho các hộ công nghiệp và lĩnh vực giao thông vận tải tại khu vực Đông Nam Bộ. Đây có thể là bước thử nghiệm để đánh giá nhu cầu thị trường, công nghệ, phương án cung cấp và khả năng tích hợp với hạ tầng hiện hữu.
Song song đó, PV GAS nghiên cứu, đánh giá các cơ hội tận dụng hạ tầng hiện có trong sản xuất, vận chuyển, cung cấp và xuất khẩu các sản phẩm xanh dẫn xuất từ H₂ xanh như ammonia xanh, methanol và e-methane.
Dư địa cho vận chuyển, lưu trữ carbon
Bên cạnh hydrogen, hạ tầng dầu khí hiện hữu còn mở ra cơ hội phát triển lĩnh vực thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCS). Trong quá trình chuyển dịch năng lượng, CCS ngày càng được xem là một trong những giải pháp quan trọng để giảm phát thải, đặc biệt đối với những ngành công nghiệp khó giảm phát thải hoàn toàn bằng điện khí hóa hoặc năng lượng tái tạo.
Với Việt Nam, lợi thế không chỉ nằm ở việc phát triển công nghệ mới mà còn ở hệ thống hạ tầng dầu khí đã được đầu tư trong nhiều thập kỷ. Từ đường ống, kho cảng, cơ sở xử lý khí đến năng lực khảo sát, thăm dò và khai thác các cấu tạo địa chất dưới lòng đất, ngành dầu khí đang sở hữu nhiều nền tảng có thể tham gia vào chuỗi CCS.
PV GAS có hệ thống đường ống, kho chứa, tái hóa khí tạo nền tảng cho năng lượng mới. Ảnh: PV GAS.
Đáng chú ý, các mỏ dầu khí đã hoặc đang bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng có thể tạo ra dư địa để nghiên cứu khả năng sử dụng cho mục đích lưu trữ CO₂, nếu đáp ứng các yêu cầu về địa chất, kỹ thuật, an toàn và kinh tế.
Theo nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam, quy mô thị trường thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon có thể đạt khoảng 40 tỷ USD. Việt Nam cũng đang phối hợp với Nhật Bản nghiên cứu, thử nghiệm tại một số mỏ có khả năng sử dụng để lưu trữ CO₂ ở khu vực Bắc Bộ.
Tại phiên thảo luận ở hội trường về dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) ngày 8/8, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết qua đánh giá sơ bộ, thị trường thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon, cùng hoạt động khai thác các công trình năng lượng ngoài khơi gắn với dầu khí, có thể phát triển nếu hình thành một ngành dịch vụ phục vụ cả khu vực Đông Nam Á.
Trước mắt, PV GAS nghiên cứu khả năng chuyển đổi từng phần để sử dụng hạ tầng phục vụ vận chuyển, tồn chứa H₂ xanh và ammonia xanh. Sau đó, các phương án sẽ được triển khai thử nghiệm nhằm đánh giá mức độ an toàn, hiệu quả và khả năng vận hành thực tế. Trong dài hạn, khi nhu cầu thị trường tăng lên, PV GAS định hướng mở rộng các hạ tầng hiện có theo các tiêu chuẩn quốc tế về H₂ và ammonia, phục vụ chiến lược sản xuất và cung cấp năng lượng xanh.
Tương tự, đối với CCS, việc tận dụng một phần hạ tầng phù hợp có thể giúp giảm nhu cầu đầu tư mới và rút ngắn thời gian hình thành thị trường. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành các dự án cụ thể, vẫn cần hoàn thiện đồng bộ về công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, hành lang pháp lý và mô hình kinh tế.




















