Bản làng ở xã Pha Long đang khổ sở đi qua mùa khô kéo dài. Ảnh: Thanh Tiến.
Mạch nước từ khe núi dần cạn kiệt
Buổi chiều một ngày đầu tháng 5, chúng tôi men theo những triền núi đá tai mèo xám xịt, đến với thôn Vũ Sà, xã Pha Long, tỉnh Lào Cai. Nơi đây, "cơn khát" nước sinh hoạt đang ảnh hưởng đến nhịp sống của hơn 300 nhân khẩu đồng bào dân tộc Phù Lá và Thu Lao.
Giữa cao điểm mùa khô khắc nghiệt, công việc chính của người dân trong thôn là vác ống nhựa đi tìm nước. Tại điểm trường lẻ, giáo viên và phụ huynh phải đong đếm từng ca nước để duy trì bữa ăn, nếp sinh hoạt cho con trẻ.
Quang cảnh ở thôn Vũ Sà thời điểm này không phải là những nương ngô xanh mướt, mà là một màu vàng khô cháy của cỏ cây và màu xám xịt của đá. Dọc theo đường tỉnh 153 và những con đường mòn ngoằn ngoèo vắt bên sườn đồi, thứ chúng tôi bắt gặp nhiều nhất là những bó ống nhựa dài loằng ngoằng, chằng chịt đan vào nhau cheo leo trên vách núi.
Các hộ dân chật vật với công việc dẫn nước từ khe núi về nhà. Ảnh: Thanh Tiến.
Chúng tôi gặp anh Giàng Phử Dùng, người dân tộc Phù Lá đang hì hục với mớ dụng cụ để đấu nối đường ống. Anh Dùng cho biết: "Hôm nay tôi đang phải đi kiếm nước, tìm cách để kéo những giọt nước ít ỏi từ cái bể cũ trên lưng chừng núi kia về nhà".
Theo lời anh Dùng, nguồn nước nhỏ nhoi này vô cùng quý giá, kéo về cũng chỉ dám dành riêng cho việc đun nấu ăn, uống. Các hoạt động tắm rửa thì chỉ dám sử dụng một chút thôi, chứ nước đâu mà tắm thoải mái. Hôm nào không kéo được nước xuống thì đành nhịn tắm. Còn quần áo thì không giặt ở nhà được đâu, gom lại rồi phải đi bộ xuống tận dưới suối cách đây hơn 1 cây số để giặt, vất vả lắm.
Cách đó không xa, anh Giàng Phử Sài cũng đang vác một bó ống nhựa lớn hối hả bước đi. Dừng lại nghỉ chân bên tảng đá, anh Sài chia sẻ với chúng tôi về hành trình gian nan để có nước dùng trong gia đình. "Tình trạng thiếu nước ở nhà tôi hiện nay cần 10 phần, thì thiếu đến 9. Ở đây lâu lắm rồi không có giọt mưa nào, nước ngoài tự nhiên cũng cạn kiệt hết rồi. Cái bể dùng chung của xóm cũng đã trơ đáy từ lâu".
Những đoạn ống nhựa được người dân chắp nối để dẫn nước từ trên khe núi cao về nhà. Ảnh: Thanh Tiến.
Để có nước sinh hoạt, gia đình anh Sài và một số hộ trong xóm đành phải góp tiền, góp sức đi mua ống nhựa kéo nước từ một khe nước tận trong rừng sâu về. "Tôi phải đi đấu nối mất hai ngày trời ròng rã, vác ống đi xuyên rừng, luồn lách qua các khe đá thì hôm nay nước mới bắt đầu chảy về đến nhà. Nhưng nước chảy nhỏ giọt, ít lắm, mấy nhà phải chung nhau một đường ống. Từng ấy nước chỉ đủ để nấu ăn, uống thôi”, anh Sài giãi bày.
Những đường ống nhựa mỏng manh kia đang gánh sự sống của bao nhiêu con người, nhưng cũng rất dễ bị đứt gãy, tắc nghẽn nếu chẳng may gia súc, thú rừng qua lại, khiến công cuộc đi tìm nguồn nước của người dân nơi đây dường như không bao giờ có hồi kết.
Anh Giàng Phử Dùng chia sẻ nỗi cực nhọc do thiếu nước sinh hoạt. Ảnh: Thanh Tiến.
Anh Giàng Chá Hòa, Trưởng thôn Vũ Sà chia sẻ: Cả thôn hiện có 67 hộ dân với 332 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Phù Lá và Thu Lao. Năm nào cũng vậy, điệp khúc thiếu nước cứ lặp đi lặp lại. Bắt đầu từ khoảng tháng 11, tháng 12 năm trước là khô hạn, kéo dài ròng rã đến tháng 4 không có một giọt mưa nào. Phải chật vật cầm cự đến tận tháng 5, tháng 6 năm sau, khi trời bắt đầu đổ mưa thì lúc ấy bà con mới có đủ nước để dùng.
Cả thôn có 3 bể chứa nước sạch được đầu tư xây dựng từ lâu nhằm mục đích tích trữ nước từ các khe nước ngầm. Thế nhưng, đợt nắng hạn vài tháng qua đã vắt kiệt tất cả. Kể cả bể to nhất cũng đã cạn khô rồi. Bể thứ hai đằng kia cũng trơ đáy. Chỉ còn duy nhất một bể là còn được khoảng hơn một nửa nước. Nước trong cái bể ấy được dẫn từ một cái giếng cạn trên cao về, nhưng bây giờ nguồn nước ấy cũng đang dần cạn, bà con trong thôn rất lo lắng.
Hầu hết bể tích trữ nước của cả khu dân cư đã cạn kiệt. Ảnh: Thanh Tiến.
Không có nước, mọi sinh hoạt đều đảo lộn. Người dân cũng không có biện pháp gì để khắc phục. Đành chỉ biết bấm bụng chịu khổ, nhờ vả lẫn nhau sống lay lắt qua ngày chờ mưa xuống.
Bà con chỉ có một mong muốn tha thiết là Nhà nước quan tâm, hỗ trợ xây dựng các bể, các hệ thống tích trữ nước mưa với quy mô lớn hơn để người dân có nước dự trữ dùng trong những ngày tháng 3, tháng 4 khô hạn đỉnh điểm này. "Cái nguồn nước tự nhiên kia, cứ đến mùa là cạn kiệt, sinh hoạt của bà con nhọc nhằn vô cùng", giọng anh Hòa chất chứa sự bất lực.
Bể nước trơ đáy. Ảnh: Thanh Tiến.
Đong đếm từng ca nước vo gạo, rửa bát
Thiếu nước sinh hoạt ảnh hưởng nghiêm trọng đến các điểm trường vùng cao. Cô giáo Nguyễn Thị Hiến, giáo viên cắm bản tại điểm trường Tiểu học Vũ Sà chia sẻ, ở điểm trường này có 22 học sinh thuộc khối lớp 1 và lớp 2, cùng với 2 cô giáo. Ngay cạnh là điểm trường Mầm non với gần 50 em học sinh và 4 cô giáo nữa. Hơn 70 con người ngày ngày chung sống, học tập tại đây nhưng đều phải đối mặt với tình trạng kiệt quệ nước sinh hoạt.
Để có nước duy trì bữa ăn trưa bán trú cho các em, phụ huynh phải thay nhau dùng xe máy chở nước từ nhà đến. Cứ mỗi buổi sáng đưa con đi học, mỗi người lại chở thêm một can nhựa 10 lít hoặc 20 lít nước giao cho nhà trường để các cô có nước nấu cơm trưa cho các con.
Điểm trưởng tiểu học và mầm non ở thôn Vũ Sà lao đao vì thiếu nước. Ảnh: Thanh Tiến.
Trong bối cảnh từng giọt nước quý hơn vàng, các thầy cô giáo đã phải sáng tạo ra những quy trình tiết kiệm nước đến mức tối đa. Rửa bát phải kê sẵn 3 cái chậu. Chậu đầu tiên là rửa thô, xong vớt sang chậu thứ hai để tráng lại, rồi mới vớt sang chậu thứ 3 tráng lần cuối. Kể cả việc học sinh rửa chân tay cá nhân cũng vậy, phải múc nước ra 2 cái chậu, nhúng rửa lần một ở chậu này rồi sang chậu kia rửa sạch, tuyệt đối không được đổ nước đi.
Toàn bộ nước thải từ việc rửa tay, rửa rau, vo gạo đều được các cô chắt chiu, gạn lại cẩn thận vào các xô lớn. Thứ nước thải đục ngầu ấy được tận dụng triệt để mang đi dội các công trình nhà vệ sinh chung của trường tiểu học và mầm non.
Cô giáo Nguyễn Thị Hiến bộc bạch: Khí hậu ở đây khắc nghiệt lắm, đất đai nứt nẻ chẳng trồng được loại cây gì. Như ở những vùng thấp thuận lợi, mùa này bà con đã vun ngô, ngô ra trái, sắp được thu hoạch rồi. Thế nhưng ở Vũ Sà này, bà con vẫn chưa thể cuốc đất xuống giống. Tất cả phải chờ đến tháng 5, tháng 6 khi ông trời đổ mưa xuống thì mới bắt đầu rục rịch làm mùa.
Con người và vạn vật ở đây phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Chúng tôi chỉ mong có một công trình nước sạch ổn định, để các con đến trường được rửa tay, rửa mặt thoải mái hơn, để cuộc sống bớt đi những nhọc nhằn.
















