Trở ngại lớn vẫn là đầu ra
Ông Phạm Văn Tần, người nuôi biển kỳ cựu tại Vân Đồn (Quảng Ninh), đã có hơn 20 năm gắn bó với mặt nước biển. Với 3 ha mặt nước được giao 2 đợt, thời hạn 30 năm, ông nuôi nhiều đối tượng có giá trị như cá song, cá chim vây vàng và cá sủ đất.
Tuy nhiên, con đường mưu sinh của ông Tần chưa bao giờ bằng phẳng. Trong hơn 2 thập kỷ làm nghề, ông đã 3 lần đối diện với những tổn thất nặng nề. Năm 2012, dịch bệnh khiến khoảng 50% tu hài bị chết. Năm 2017, ngao hai cồi thiệt hại tới 90%. Đến năm 2021, cơn bão Yagi quét qua, cuốn đi khoảng 80% sản lượng hàu. Những biến cố liên tiếp này khiến tổng thiệt hại ước tính gần 10 tỷ đồng, và đến nay ông vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn.
Ông Phạm Văn Tần, người nuôi biển kỳ cựu tại Vân Đồn (Quảng Ninh), đã có hơn 20 năm gắn bó với mặt nước biển. Ảnh: Hồng Thắm.
“Trên bờ mất vài trăm triệu là thấy đau lắm. Nhưng dưới biển, mất tiền cũng tiếc, nhưng không quá nặng nề. Mình coi như biển cả lấy đi, rồi mình lại dựa vào biển để làm lại. Đời mình dựa vào thiên nhiên nên thiên nhiên lấy đi thì phải chịu, rồi lại dựa vào thiên nhiên để đứng lên”, ông Tần trải lòng - một cách nhìn vừa cam chịu, vừa kiên cường của người nuôi biển lâu năm.
Trong nỗ lực tìm hướng đi mới, ông Tần đang thử nghiệm nuôi cá sủ đất, đối tượng nuôi còn khá mới ở miền Bắc. Hiện, ông nuôi khoảng 1.000 con, cá sinh trưởng tốt, sau khoảng 19 tháng đạt khối lượng hơn 4 kg/con. Thực tế cho thấy, cá sủ đất khó nuôi ở giai đoạn đầu, nhưng khi đạt cỡ 0,2 - 0,3 kg/con thì khá “dễ tính”, lớn nhanh, ít hao hụt, phù hợp với điều kiện nuôi lồng trên biển.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay không nằm ở kỹ thuật, mà ở thị trường. Cá sủ đất chưa được biết đến rộng rãi, đầu ra chưa ổn định và giá bán thấp. Điều đó khiến các mô hình nuôi, dù có tín hiệu kỹ thuật tích cực, vẫn chưa thể mở rộng quy mô hay tạo đột phá về hiệu quả kinh tế.
Cần tăng cường truyền thông và các nghiên cứu chuyên sâu
TS. Trương Văn Thượng, Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản cho biết, cá sủ đất hay cá sủ miệng vàng thuộc họ cá sủ, là loài cá có tiềm năng lớn nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, giá trị kinh tế cao và có thể nuôi trong môi trường mặn hoặc nước lợ, phù hợp với nhiều hình thức nuôi. Nếu thả nuôi từ cỡ giống 18-20 cm, sau khoảng 1 năm cá có thể đạt trên 2 kg/con; sau 18 tháng đạt khoảng 3,5-4 kg/con; từ năm thứ 2 đến thứ 3, cá có thể đạt trọng lượng 9-12 kg.
Bên cạnh giá trị thương phẩm, điểm nổi bật nhất của cá sủ đất nằm ở bóng hơi. Bóng hơi cá sủ chứa nhiều dầu, axit amin và khoáng chất; theo y học cổ truyền, đây được xem là một vị thuốc có tác dụng tăng cường và bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược. Ngoài ra, bóng hơi còn được sử dụng trong y học, đặc biệt là trong các kỹ thuật cấy chỉ của đông y.
TS. Trương Văn Thượng, Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản cho biết, cá sủ đất hay cá sủ miệng vàng thuộc họ cá sủ, là loài cá có tiềm năng lớn nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, giá trị kinh tế cao. Ảnh: Hồng Thắm.
Một số tài liệu cho biết, tại thị trường Hồng Kông, bóng hơi cá sủ đất đạt kích cỡ thương phẩm khoảng 150-200 gram có giá thương mại lên tới 3.800-4.000 USD/kg khô. Tuy nhiên, để bóng hơi đạt giá trị thương mại cao, cá cần được nuôi đạt kích cỡ lớn, thông thường từ trên 10 kg/con mới đủ điều kiện khai thác hiệu quả.
Hiện nay, Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản đã chủ động hoàn toàn nguồn giống cá sủ đất, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời, nhà trường cũng đang chuyển giao quy trình công nghệ ương nuôi cho các đơn vị phối hợp, giúp các cơ sở nuôi có thể chủ động sản xuất khi nhu cầu tăng cao. Trường hiện duy trì đàn cá bố mẹ phục vụ chọn giống và sinh sản, sẵn sàng cung cấp con giống khi thị trường có nhu cầu.
Một lợi thế khác của cá sủ đất là thịt cá chắc, ít bị biến tính trong quá trình cấp đông, giúp chất lượng thịt ổn định lâu dài. Điều này mở ra khả năng chế biến fillet và phát triển xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo TS. Trương Văn Thượng, khó khăn lớn hiện nay là cá sủ đất vẫn là đối tượng nuôi mới, người tiêu dùng chưa quen, lượng cá thương phẩm tiêu thụ còn ít. Trong khi đó, thị trường bóng hơi tại Việt Nam chưa hình thành được nhu cầu thu gom với quy mô lớn để xuất khẩu và chế biến, do sản lượng nuôi còn hạn chế, chưa đủ tạo ra một thị trường thương mại ổn định.
Bên cạnh giá trị thương phẩm, điểm nổi bật nhất của cá sủ đất nằm ở bóng hơi. Ảnh: Hồng Thắm.
Chính vì vậy, cần có sự hỗ trợ về chính sách nhằm thúc đẩy phát triển nghề nuôi cá sủ đất theo hướng quy mô lớn hơn, tạo được nguồn nguyên liệu đủ lớn cho cả sản phẩm cá thương phẩm và bóng hơi, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Nếu chỉ duy trì ở quy mô nhỏ lẻ, sản lượng bóng hơi sẽ không đủ để hình thành chuỗi chế biến và thương mại hóa bền vững.
TS. Trương Văn Thượng cho rằng, để phát triển bền vững đối tượng cá sủ đất, trước hết cần đẩy mạnh quy mô nuôi; tăng cường truyền thông hơn nữa để nhiều người biết đến loài cá này.
Đồng thời, cần chú trọng vấn đề chế biến sản phẩm sau thu hoạch, đặc biệt là chế biến bóng hơi. Để làm được điều đó, cần có thêm các nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ chế biến, đặc biệt là chế biến bóng hơi - lĩnh vực hiện vẫn còn rất hạn chế tại Việt Nam.




























