Yêu nông nghiệp, tận hiến hết mình cho ngành trồng trọt xứ Đông (tỉnh Hải Dương cũ), bà Lương Thị Kiểm - Phó Giám đốc Sở NN-MT TP. Hải Phòng là người nổi tiếng kiên định, quyết đoán tới sắt đá: sẵn sàng ‘mai phục’ cả ngày trước một cửa hàng kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để tìm chứng cứ, xử lý hành vi sai phạm kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV có thành phần không được phép sử dụng trong nông nghiệp. Tất cả với một mục đích: bảo vệ ngành trồng trọt, vì một nền nông nghiệp hữu cơ, sinh thái, bền vững, cũng là bảo vệ thương hiệu, uy tín cho những người nông dân - một trong những mắt xích quan trọng hàng đầu của ngành sản xuất nông nghiệp.
'Phải tìm ra nút thắt để cởi trói ngành trồng trọt'
Những nông dân vựa rau vụ Đông lớn nhất miền Bắc đồng đất xứ Đông (Hải Dương cũ, nay là TP. Hải Phòng) không còn lạ một phụ nữ nhỏ nhắn, “đặc” nông dân, lúc nào cũng tất bật trên những cánh đồng rau màu xanh mướt, khi là thủ phủ vàng ruộm cà rốt Đức Chính (Cẩm Giàng), lúc bạt ngàn hành tỏi xanh từ Kinh Môn xanh sang Nam Sách, Thanh Miện, Ninh Giang, Gia Lộc… hay xứ vải thiều Thanh Hà chín đỏ, trĩu cành…
Bà Lương Thị Kiểm (người cầm mic) - "nữ tướng" tận hiến cho ngành trồng trọt của vùng cây vụ Đông lớn nhất miền Bắc. Ảnh: Tùng Đinh.
Những sản vật ấy, từng nức danh trong ca dao, tục ngữ, từng được xếp cho danh phận “đặc sản tiến vua” của đất Hải Dương cũ, được cả nước biết đến. Nhưng, để trở thành nông sản hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, vươn ra thị trường quốc tế… cần nhiều hơn thế: phải vượt qua hàng rào kiểm định chất lượng dựa trên các chỉ số khoa học, được cân đo bằng các tiêu chuẩn, con số, định lượng…
Khoa học bao giờ cũng công tâm và khách quan: một lô hàng nông sản không đảm bảo chất lượng, khi xuất sang thị trường nước ngoài sẽ bị trả ngược trở lại. Nó sẽ là thước đo, và là thứ quyết định sự tăng trưởng của nền nông nghiệp địa phương, trực tiếp quyết định thu nhập của người nông dân. “Phải tìm ra mấu chốt, điểm thắt để có giải pháp cởi nút thắt đó” - Phó Giám đốc Lương Thị Kiểm khẳng định.
Nhiều những câu chuyện của bà với cây trồng ở tỉnh Hải Dương cũ chưa từng được viết. Ví như câu nói: “Bạn có thể tự tin nhổ một củ cà rốt Đức Chính lên, làm sạch đất và ăn ngay tại bờ, bởi nó được trồng trên một vùng đất rất sạch, đất bãi phù sa, năm nào cũng được thau rửa bằng một lần ngập nước kéo dài khoảng hơn 1 tháng. Khi ngập nước như vậy, toàn bộ tuyến trùng, sâu bệnh trong đất được thau rửa, đất lại được bổ sung, bồi đắp phù sa sông. Đặc thù này cũng giúp hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV trong quá trình canh tác trồng cây vụ đông".
Vùng chuyên canh cà rốt Đức Chính. Ảnh: Tùng Đinh.
Sinh năm 1979 trên đất vải Thanh Hà. PGĐ Sở NN-MT TP Hải Phòng Lương Thị Kiểm là người góp sức hình thành, phát triển những cánh đồng rau màu vụ Đông mẫu lớn mang lại giá trị kinh tế ngàn tỷ; đưa quả vải Thanh Hà thành nông sản xuất khẩu chủ lực của vùng đất xứ Đông (Hải Dương cũ, nay là hải Phòng).
Đồng nghiệp kể, bà "Thát-chơ" Lương Thị Kiểm đã chỉ đạo kiểm soát chặt quá trình cung cấp vật tư thuốc BVTV vào các vùng canh tác rau màu; từ quán triệt các cửa hàng kinh doanh đến chỉ ra vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương; từ kết nối đầu gom thu mua đến doanh nghiệp kinh doanh, chế biến rau củ quả… hàng loạt chuỗi vấn đề được thực hiện đồng bộ để kết quả cuối cùng là sản phẩm sản xuất, chế biến ra phải an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn của các quốc gia nhập khẩu nông sản. Cà rốt khi thu hoạch, có thể sơ chế, vệ sinh qua là ăn được ngay tại chỗ vì thế.
Trong một chuyến về thăm vùng canh tác cà rốt Đức Chính, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã không ngần ngại nếm thử một củ cà rốt ngay tại xưởng sơ chế. Nói vậy để thấy, cà rốt Đức Chính là nông sản sạch, rất an toàn. Trong những lần kiểm tra thực tế, đoàn thực nghiệm cũng từng nhiều lần ăn cà rốt tươi tại ruộng.
Sau cà rốt và quả vải Thanh Hà (2 nông sản xuất khẩu đang phát triển mạnh ở Hải Phòng), tới đây sẽ là hành tỏi, cải bắp xuất sang Hàn Quốc. Hiện Sở NN-MT đang triển khai mô hình khám sức khỏe đất trồng định kỳ tại xã Nam An Phụ, kiểm tra thành phần dinh dưỡng, dư lượng thuốc BVTV trong đất trước khi trồng hành tỏi. Mục tiêu là đảm bảo dinh dưỡng đất cung cấp cho cây vừa đủ, không dư thừa. Sau khi có kết quả, sẽ ứng dụng để nhân rộng ra toàn bộ vùng canh tác, đưa nông sản xuất khẩu vươn sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu…
"Chúng tôi đã sang Nhật học hỏi kinh nghiệm mô hình sản xuất nông sản an toàn, tham khảo cả vấn đề cơ chế, chính sách của nhà nước giúp người nông dân có mục tiêu cụ thể, không tự phát như trước, tránh tình trạng được mùa mất giá” - Phó Giám đốc Lương Thị Kiểm chia sẻ.
Tìm ra công thức đưa vải thiều Thanh Hà đi Nhật
Trước khi biên chế tại Phòng Nông nghiệp huyện, Lương Thị Kiểm từng có thời gian làm việc cho một công ty nông sản của Đài Loan, phụ trách truyền thông marketing. Đây là thời gian quý báu giúp bà nhận ra sản xuất mới chỉ là một phần, điều quan trọng và có tính chất quyết định giá trị sản xuất là khâu tiếp thị sản phẩm. Và bà nung nấu điều này.
Trải qua các chức danh ở Phòng Nông nghiệp huyện, mãi tới khi được bổ nhiệm Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt - Bảo vệ thực vật, Lương Thị Kiểm mới hội đủ điều kiện để chăm lo cho cây ăn quả - một thế mạnh nhưng vẫn còn “bỏ ngỏ” ở địa phương.
Vùng vải Thanh Hà. Ảnh: Tùng Đinh.
Thời điểm đó không riêng Hải Dương, nhiều địa phương chỉ chú trọng tới cây lương thực mà chưa đầu tư vào cây ăn quả nên lĩnh vực này ảm đạm, trầm buồn nhất ngành trồng trọt. Năm 2015, Bộ Nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu quả vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn sang thị trường cao cấp như Mỹ, châu Âu, Úc, Nhật Bản… Một đề án dành cho cây vải được xây dựng. Nhưng, cái khó nhất là làm sao để quả vải thu hoạch khi kiểm định đáp ứng được các yêu cầu rất nghiêm ngặt về dư lượng thuốc BVTV và hàng loạt các chỉ tiêu hoạt chất...
Được giao tham mưu viết các đề án phát triển cây ăn quả, bà nhận thấy cây vải đang “có vấn đề”: “Trong một lần tiếp xúc thương mại, một doanh nghiệp nông sản nói với tôi: “Tôi không hiểu các anh chị trong ngành nông nghiệp nghĩ gì, cây vải thiều gốc gác Hải Dương, thương hiệu vải Thanh Hà có từ lâu nhưng rõ ràng cả nước chỉ biết tới vải thiều Lục Ngạn. Năm 2008, nông dân Thanh Hà từng chặt bỏ cây vải hàng loạt để trồng cây khác vì giá vải thấp, không tiêu thụ được. Bắc Giang trồng sau, lấy giống vải Thanh Hà nhưng tại sao cả nước lại biết đến?”.
Tôi về suy nghĩ mãi và nhận ra hai vấn đề: thứ nhất phải sản xuất an toàn, thứ hai, phải xúc tiến thương mại, hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản. Nếu chúng ta chỉ lo sản xuất mà không nghĩ tới việc quảng bá, truyền thông thì có trồng tốt mấy cũng không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Người nông dân rơi vào tình thế “được mùa mất giá”, họ chặt bỏ cây không bán được để trồng cây khác thay thế là điều dễ hiểu, trong khi các siêu thị thì háo hức đi tìm các nguồn hàng nông sản an toàn".
Vùng vải Bắc Giang khi đó cũng mò mẫm tìm đường. Từng có phương án trùm lưới, làm nhà màn quy mô lớn để bảo vệ cây khỏi sâu bệnh xâm hại hòng có được quả vải sạch, không sử dụng thuốc BVTV. Tuy nhiên, đó là phương án rất khó triển khai đồng bộ nhất là trên quy mô diện tích lớn.
Năm 2019, với "bàn tay" của bà Lương Thị Kiểm, cây vải Thanh Hà đã tìm ra được "công thức" để quả vải Thanh Hà đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn để xuất sang các thị trường cao cấp như Mỹ, Nhật Bản, Úc, châu Âu... Ảnh: Tùng Đinh.
Thời điểm đó, Bộ Nông nghiệp cử một đoàn công tác gồm các chuyên gia đầu ngành về trồng trọt, bảo vệ thực vật về kiểm tra, hỗ trợ Hải Dương làm quả vải sạch đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Khi đó, tôi đang là Trưởng phòng trồng trọt. Xúc tiến thương mại nông sản lúc đó vẫn còn rất sơ khai, mới chỉ có các hoạt động giới thiệu vùng trồng, hỗ trợ, kết nối các HTX tiêu thụ nông sản. Năm 2018 tôi sang đảm nhiệm Chi cục trưởng Chi cục BVTV, lúc đó tôi mới thấy thực sự nút thắt của câu chuyện xuất khẩu nông sản chính là câu chuyện của BVTV".
Không theo phương án Bắc Giang thí điểm làm nhà màng phủ bảo vệ, ngăn chặn cây vải khỏi sâu bọ xâm hại từ đó không dùng thuộc BVTV, Lương Thị Kiểm tìm cách khác mà theo cách gọi của bà, đó là "cách làm ngược".
Vùng rau đảm bảo tiêu chuẩn VietGap để hướng tới xuất khẩu. Ảnh: Tùng Đinh.
“Sau cuộc họp, tôi tập hợp tất cả anh em cán bộ của Chi cục lại và tính bài toán ngược: từ những tiêu chuẩn cho phép nhập khẩu quả vải của Nhật Bản như thế nào, phân tích các tiêu chuẩn của họ để tìm cách sản xuất ra sản phẩm đạt được những tiêu chuẩn đó: những hoạt chất nào được cho phép sẽ tìm những loại thuốc BVTV có hoạt chất đó để phun tưới cho cây; tiếp đó, nghiên cứu xem thời gian dư lượng tồn dư là bao nhiêu thì sẽ hết. Vừa làm, vừa triển khai, vừa thí nghiệm. Chi cục thuê một vườn vải của một người dân ở Thanh Hà để thực nghiệm, tìm tòi công thức.
Tôi cho anh em mang tất cả các loại thuốc có hoạt chất mà Nhật cho phép còn dư lượng để thử nghiệm trên cây; thử xem hiệu lực phòng trừ như thế nào. Có 2 đối tượng cần chú ý: một là sâu, hai là bệnh. Khi quả vải bắt đầu bằng ngón tay chúng tôi tiến hành phun thuốc, cứ 3 - 5 ngày lại vác bình xuống phun; ghi chép nhật ký đầy đủ. 5 ngày sau phun lại vặt quả mang đi phân tích xem dư lượng còn bao nhiêu. Dừng phun thuốc 5 ngày không phun rồi lại vặt quả mang đi phân tích, tiếp tục chia thời gian giãn cách 3 ngày, 2 ngày… Quả vải lấy mẫu xét nghiệm chỉ phân tích ở 1 phòng lap duy nhất, quét hơn 800 chỉ tiêu BVTV, xem thời gian bao nhiêu lâu sẽ không còn tồn dư BVTV thì hết. Mọi việc cứ mò mẫm, dò đường, liên tục suốt một vụ vải, tổng kinh phí hết gần 200 triệu để thí nghiệm. Bên cạnh đó, chúng tôi tham khảo thêm kinh nghiệm của cán bộ Syngenta.
Chúng tôi tìm ra được đúng 2 loại thuốc BVTV để có thể sử dụng cho vùng vải xuất khẩu: 1 loại thuốc để trừ bệnh, 1 loại trừ sâu, trong đó 1 loại của Syngenta, 1 loại của bên Bayer đáp ứng đúng theo yêu cầu này. Nhưng, nếu chỉ sử dụng liên tục 2 loại thuốc BVTV này từ đầu vụ đến cuối vụ thì sẽ hỏng năm sau bởi lý do: sâu bệnh sẽ nhờn thuốc, thứ 2, chi phí rất cao. Giải pháp mà tôi lựa chọn, đó là trước khi thu hoạch quả 1 tháng, chỉ dùng 2 loại đó đảm bảo thời gian cách ly là đáp ứng; còn trước thời gian đó, người trồng vải có thể sử dụng các loại thuốc khác theo hướng dẫn của Bộ. Cách tiếp cận này của chúng tôi sau đó được áp dụng trên nhiều loại nông sản khác, và đều thành công”.
Năm 2019, Hải Dương là địa phương đầu tiên thành công có vải xuất khẩu, đạt hơn 1 tấn. Từ vườn vải thí nghiệm, khi đã ra được công thức, Hải Dương triển khai diện rộng trên toàn vùng vải Thanh Hà, đủ đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu đi Nhật. Đến nay, quả vải thiều Thanh Hà đi Mỹ, đi Nhật đã trở thành câu chuyện quá đỗi bình thường. Để có được thành quả này là cả một hành trình dài, như câu chuyện bà Kiểm vừa chia sẻ.
"BVTV là nút thắt của ngành trồng trọt. Bên cạnh tuân thủ theo những hướng dẫn, quy định của Bộ, phải quản lý được hệ thống các điểm kinh doanh thuốc BVTV tại cơ sở.
Có những cơ sở kinh doanh thuốc BVTV bán các loại nằm ngoài danh mục, nhận được nguồn tin, chúng tôi cử cán bộ xuống xử lý. Chủ cửa hàng kinh doanh khóa cửa, trốn đoàn kiểm tra. Tôi yêu cầu cán bộ chờ trước cửa cho bằng được, chờ từ sáng cho tới hết đêm, tôi mua bánh mì mang xuống tiếp tế trực cùng anh em, rồi liên hệ chính quyền địa phương cử lực lượng công an tăng cường hỗ trợ. Cho tới sáng hôm sau, chủ cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV buộc phải mở cửa, phối hợp với lực lượng, ký cam kết không vi phạm. Phải làm rắn, làm nghiêm từ những hộ kinh doanh thuốc BVTV thì mới quản chặt được. Nếu không, thành quả của mình sẽ đổ sông đổ bể. Người nông dân tin và nghe theo hướng dẫn của những người bán BVTV, do đó, phải kéo những hộ kinh doanh thuốc BVTV như là cánh tay nối dài" - bà Kiểm nhấn mạnh.


![Dạy học miền rừng lắm gian truân: [Kỳ cuối] Tiếp nối nghiệp ‘trồng người’](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/04/02/0927-tiep-noi-4-nongnghiep-150913.jpg)
![Dạy học miền rừng lắm gian truân: [Kỳ 3] Đứng dậy từ một cú sốc](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/04/01/5831-2020-screenshot_1775002733-nongnghiep-071946.jpeg)
![Dạy học miền rừng lắm gian truân: [Kỳ 2] Những địa chỉ yêu thương](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/03/31/3213-san-con-chu-3jpg-nongnghiep-073207.jpg)
![Dạy học miền rừng lắm gian truân: [Kỳ 1] Vượt khó đến với học trò](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/03/30/5114-vuot-kho-5jpg-nongnghiep-115101.jpg)
![Lo một mùa quả đắng: [Bài 2] Giải pháp nào thích ứng với thiên tai?](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/ngantt89/2026/03/29/2709-z7669740194606_ff8f1cfd33581f0792b470e26a248342-nongnghiep-152702.jpg)
![Phận nghèo giữa xứ Phù Hoa: [Bài cuối] Trăm nhà tạm và thực trạng 'chồng Trung'](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/03/24/5025-chatgpt-image-06_49_59-24-thg-3-2026-nongnghiep-065011.jpeg)
![Phận nghèo giữa xứ Phù Hoa: [Bài V] 40 tuổi, 10 con, 3 cháu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/tuongdt/2026/03/18/1116-dsc_8949_1-113047_627.jpg)
![Phận nghèo giữa xứ Phù Hoa: [Bài IV] Những cuộc chia tay mùa xuân](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/tuongdt/2026/03/17/3043-dsc_9980_1-162325_351.jpg)

![Phận nghèo giữa xứ Phù Hoa: [Bài III] Những hộ không xe máy, chỉ đi bộ](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hainv72/2026/03/19/2352-screenshot_1773897337-nongnghiep-122228.jpeg)

