Người trồng phấn khởi trước chính sách mới
Ông Phạm Xuân Lân, xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk trồng hơn 2 ha sầu riêng xen cà phê từ năm 2005. Diện tích đã được cấp mã truy xuất nguồn gốc nhưng đến nay gia đình ông vẫn chưa được cấp mã số vùng trồng do chưa đáp ứng yêu cầu về sản xuất một loại cây.
Ông Phạm Xuân Lân, xã Ea Knuếc, Đắk Lắk chia sẻ những khó khăn liên quan đến mã vùng trồng và các quy định về diện tích trong Nghị định 38 với Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp vào đầu tháng 7/2026. Ảnh: Phạm Hoài.
Theo ông Lân, phần lớn diện tích của người dân trong khu vực là đất nhận khoán từ Công ty Cà phê Tháng Mười. Theo hợp đồng, người dân vẫn phải duy trì cây cà phê để thực hiện nghĩa vụ sản lượng nên không dễ chuyển sang chuyên canh sầu riêng.
Đến nay, khi chính sách mới được ban hành theo hướng đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, ông Lân cho rằng đây là tín hiệu rất đáng mừng đối với những hộ sản xuất xen canh. “Những vườn sầu riêng có mã số vùng trồng thường thuận lợi hơn trong tiêu thụ, giá bán cũng tốt hơn. Nếu diện tích xen canh như chúng tôi có thêm cơ hội được cấp mã thì bà con rất phấn khởi”, ông Lân nói.
Không chỉ người trồng, các HTX và đơn vị thu mua cũng đang kỳ vọng chính sách mới tạo thêm dư địa mở rộng vùng nguyên liệu. Bà Đoàn Thị Kiều Thanh, Giám đốc HTX Nông nghiệp Phú Thanh Đắk Nông, phường Bắc Gia Nghĩa,tỉnh Lâm Đồng, cho biết HTX hiện liên kết với người dân thu mua sầu riêng phục vụ xuất khẩu, nhưng số lượng mã số vùng trồng chưa đáp ứng nhu cầu.
HTX đang liên kết khoảng 10 mã số vùng trồng, mỗi tháng xuất khẩu khoảng 500 tấn sầu riêng tươi. Nếu vùng nguyên liệu được mở rộng, đơn vị dự kiến nâng công suất nhà xưởng lên 1.000-1.500 tấn/tháng.
“Chúng tôi rất vui nếu việc cấp mã số được tháo gỡ theo hướng nhanh và thuận tiện hơn. Có thêm mã số, HTX sẽ thuận lợi mở rộng liên kết, thu mua và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho xuất khẩu”, bà Thanh nói.
Mở rộng vùng nguyên liệu, giữ chuẩn xuất khẩu
Ông Nguyễn Văn Hà, thương lái sầu riêng tại Lâm Đồng, cho rằng việc tháo gỡ điều kiện về diện tích sẽ giúp nhiều vùng trồng đủ điều kiện có cơ hội được cấp mã số. Theo ông Hà, khi vùng nguyên liệu được xác lập rõ ràng, hoạt động thu mua phục vụ xuất khẩu cũng thuận lợi và minh bạch hơn.
Người trồng sầu riêng cùng với các HTX sau khi nghe thông tin Chính phủ ban hành Nghị quyết 36 đơn giản hoá thủ tục cấp mã vùng cảm thấy rất vui mừng, phần khởi. Ảnh: Phạm Hoài.
“Người mua rất cần những vùng nguyên liệu rõ ràng, có thể truy xuất nguồn gốc. Khi nhiều diện tích được cấp mã số, nông dân có thêm cơ hội bán hàng vào chuỗi xuất khẩu”, ông Hà nói. Tuy nhiên, ông Hà cho rằng đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với buông lỏng chất lượng. Sầu riêng khi thu mua vẫn phải được kiểm tra độ già, chất lượng cơm và các tiêu chuẩn của thị trường. Những lô hàng không đạt yêu cầu khó có thể xuất khẩu, dù vùng trồng đã có mã số.
Từ góc độ doanh nghiệp xuất khẩu, bà Ngô Tường Vy, Tổng giám đốc Tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu đánh giá, Nghị quyết số 36 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có cấp mã số vùng trồng, là tín hiệu tích cực đối với ngành sầu riêng.
Theo bà Vy, việc rút gọn quy trình sẽ giúp nhiều diện tích đủ điều kiện được đưa vào hệ thống quản lý chính thức. Doanh nghiệp cũng có thêm cơ hội mở rộng vùng nguyên liệu, kiểm soát nguồn gốc và xây dựng chuỗi liên kết ổn định.
“Đây là một bước tiến quan trọng. Khi thủ tục được đơn giản hóa, người dân và doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quản lý vùng nguyên liệu, đồng thời dữ liệu được cập nhật đầy đủ hơn, giúp nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc”, bà Vy nhận định.
Từ cơ sở, kỳ vọng rộng đường xuất khẩu
Tây Nguyên hiện có hàng trăm ngàn ha sầu riêng, chiếm khoảng một nửa diện tích sầu riêng cả nước, tập trung chủ yếu tại Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai. Đây cũng là vùng sản xuất sầu riêng lớn nhất cả nước, với sản lượng hàng trăm nghìn tấn mỗi năm. Ảnh: Phạm Hoài.
Tại xã Ea Knuếc, sầu riêng là cây trồng chủ lực với khoảng 5.000 ha. Theo bà Ngô Thị Minh Trinh, Bí thư Đảng ủy xã , khoảng 90% sản lượng sầu riêng của địa phương được tiêu thụ qua thị trường xuất khẩu, trong đó khoảng 60 -70% đạt loại A. Quy mô sản xuất lớn, gắn chặt với thị trường xuất khẩu khiến yêu cầu về mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng ngày càng trở nên quan trọng.
Bà Trinh cho biết địa phương rất phấn khởi trước những thay đổi theo hướng tháo gỡ thủ tục. Xã đang khẩn trương rà soát, sắp xếp công việc để hỗ trợ người dân, HTX tiếp cận chính sách nhanh hơn nhưng vẫn bảo đảm công khai, minh bạch và đúng quy định.
“Chúng tôi rất vui mừng khi những khó khăn từ thực tế sản xuất được Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường quan tâm. Địa phương mong chính sách sớm đi vào thực tiễn để người dân dễ tiếp cận hơn, doanh nghiệp có thêm vùng nguyên liệu và địa phương quản lý tốt hơn chất lượng sầu riêng”, bà Trinh nói.
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk, việc tháo gỡ những vướng mắc về mã số vùng trồng có ý nghĩa quan trọng đối với ngành hàng sầu riêng của tỉnh. Khi quy định được điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn, địa phương có thêm điều kiện chuẩn hóa vùng nguyên liệu, mở rộng liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp, qua đó nâng tỷ lệ sản phẩm tham gia chuỗi xuất khẩu. Đây cũng là cơ hội để ngành sầu riêng Tây Nguyên chuyển từ phát triển nhanh về diện tích sang chú trọng hơn đến chất lượng, tính minh bạch và sự ổn định của chuỗi giá trị.
Tây Nguyên hiện có khoảng 90.000ha sầu riêng, chiếm khoảng một nửa diện tích sầu riêng cả nước, tập trung chủ yếu tại Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai. Đây cũng là vùng sản xuất sầu riêng lớn nhất cả nước, với sản lượng hàng trăm nghìn tấn mỗi năm. Trong đó, riêng Đắk Lắk là một trong những vùng trọng điểm. Toàn tỉnh hiện có khoảng 41.000 ha sầu riêng; niên vụ 2025 sản lượng đạt gần 446.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu ước khoảng 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, đến nay toàn tỉnh có khoảng 280 mã số vùng trồng sầu riêng với diện tích khoảng 7.500 ha và 42 cơ sở đóng gói được cấp mã xuất khẩu.
















