Ba thập kỷ thành công nhưng mô hình tăng trưởng đã tới giới hạn
Sau hơn 30 năm phát triển, Việt Nam không chỉ phục hồi thành công độ che phủ rừng lên trên 42% mà còn xây dựng được ngành công nghiệp gỗ có vị thế trên thị trường toàn cầu với kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 17,2 tỷ USD trong năm 2025.
Thành công này được tạo nên từ bốn động lực chính gồm: cải cách giao đất, giao rừng; sự phát triển của thị trường dăm gỗ; tiến bộ khoa học - công nghệ trong chọn tạo giống và sự phát triển đồng thời của các nhóm sản phẩm như đồ gỗ, dăm gỗ, ván công nghiệp và viên nén gỗ.
Nút thắt của ngành hiện nay không đơn thuần là thiếu gỗ về số lượng mà là thiếu nguồn cung gỗ lớn có chất lượng cao, ổn định, hợp pháp để phục vụ chế biến sâu. Ảnh: Tuyết Lê.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào rừng chu kỳ ngắn, gỗ nhỏ, chi phí thấp và xuất khẩu khối lượng lớn đang dần tiệm cận giới hạn.
“Mô hình tạo nên thành công của 30 năm qua không đồng nghĩa với việc sẽ tiếp tục bảo đảm thành công trong 30 năm tới”, ông Ngô Sỹ Hoài nhận định.
Ông phân tích, nếu trước đây ngành gỗ tăng trưởng nhờ lợi thế về nguyên liệu và lao động chi phí thấp, thị trường tương đối dễ tính cùng khả năng mở rộng công suất, thì hiện nay những lợi thế này đang suy giảm nhanh. Trong khi chi phí lao động, đất đai, logistics và năng lượng ngày càng tăng, các thị trường lớn lại đặt ra những yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), chứng chỉ rừng, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon, chống mất rừng và trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Ông Ngô Sỹ Hoài cho rằng, nút thắt của ngành hiện nay không đơn thuần là thiếu gỗ về số lượng mà là thiếu nguồn cung gỗ lớn có chất lượng cao, ổn định, hợp pháp để phục vụ chế biến sâu.
Theo ước tính của VIFOREST, tổng nhu cầu nguyên liệu quy đổi cho bốn nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2025 vào khoảng 59,5 triệu m³. Trong đó, dăm gỗ và viên nén tiêu thụ tới 46,5 triệu m³, tương đương 78,1%, trong khi ván công nghiệp và đồ gỗ xuất khẩu chỉ sử dụng khoảng 13 triệu m³, tương đương 21,9%.
Ông Ngô Sỹ Hoài cho biết việc người dân tập trung khai thác rừng sau 3-5 năm không phải vì không muốn phát triển gỗ lớn mà là phản ứng hợp lý trước tín hiệu của thị trường. Ảnh: Bảo Thắng.
“Điều đó cho thấy ngành gỗ Việt Nam không thiếu nguyên liệu sinh khối, điều còn thiếu là nguồn gỗ lớn có chất lượng cao phục vụ chế biến sâu. Hệ quả là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào nguồn gỗ nhập khẩu, trong khi hiệu quả kinh tế từ rừng trồng chưa tương xứng nếu tính trên mỗi hecta đất lâm nghiệp cũng như xét đến thời gian đầu tư, chi phí vốn và rủi ro thiên tai”, ông Hoài phân tích.
Theo đại diện VIFOREST, việc người dân tập trung khai thác rừng sau 3-5 năm không phải vì không muốn phát triển gỗ lớn mà là phản ứng hợp lý trước tín hiệu của thị trường. Phần lớn hộ trồng rừng có diện tích nhỏ và phân tán, trong khi rừng là tài sản quan trọng để trang trải chi phí sinh hoạt, học hành, chữa bệnh hoặc tái đầu tư. Nếu kéo dài chu kỳ lên 7-15 năm, người dân phải chấp nhận “chôn” vốn lâu hơn và đối mặt với nhiều rủi ro như bão lũ, cháy rừng, sâu bệnh hay biến động thị trường. Trong khi đó, tín dụng dài hạn còn hạn chế, bảo hiểm rừng chưa phát triển và chênh lệch lợi nhuận giữa gỗ nhỏ với gỗ lớn chưa đủ hấp dẫn để bù đắp các rủi ro này.
Đổi tư duy từ ‘trồng cây’ sang ‘quản lý rừng’
Để tháo gỡ những điểm nghẽn trên, theo Tổng Thư ký VIFOREST Ngô Sỹ Hoài, điều quan trọng nhất là cần thay đổi tư duy từ “trồng cây rồi khai thác” sang “quản lý rừng”.
Theo đó, thay vì coi rừng là cây trồng ngắn ngày để nhanh thu hồi vốn, người trồng rừng cần xem rừng là một tài sản dài hạn, được đầu tư và quản lý xuyên suốt vòng đời. Điều đó đòi hỏi cần lựa chọn giống phù hợp, tối ưu mật độ trồng, tỉa cành, tỉa thưa, quản lý sâu bệnh, bảo vệ đất và nguồn nước, quản lý carbon và khai thác theo mục tiêu tạo ra gỗ lớn, chất lượng cao thay vì chỉ dừng ở mục tiêu tối đa sản lượng.
“Khi đó, người trồng rừng không chỉ bán sinh khối theo tấn mà có thể bán gỗ theo đường kính, chất lượng, chứng chỉ và khả năng phục vụ chế biến”, ông Hoài nói.
TS Nguyễn Đức Thành nhấn mạnh, ngành gỗ cần tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến sâu và gia tăng giá trị cho sản phẩm. Ảnh: Quốc Tuấn.
Theo ông, phát triển rừng gỗ lớn chỉ có thể thành công khi người trồng rừng nhìn thấy lợi ích kinh tế rõ ràng và có khả năng quản trị rủi ro. Do đó, cần phát triển tín dụng xanh phù hợp với rừng trồng chu kỳ dài, bảo hiểm rừng đối với bão, cháy, sâu bệnh; hỗ trợ các mô hình “lấy ngắn nuôi dài”; đồng thời để thị trường trả mức giá đủ hấp dẫn đối với gỗ lớn thông qua các hợp đồng bao tiêu dài hạn và cơ chế thu mua minh bạch.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của hợp tác xã lâm nghiệp trong tổ chức vùng nguyên liệu, thực hiện chứng chỉ rừng theo nhóm và liên kết với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chế biến cũng cần tham gia ngay từ đầu chuỗi giá trị thông qua cung cấp giống, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ chứng chỉ, đồng tài trợ bảo hiểm và cam kết thu mua gỗ theo chất lượng.
Nếu ông Ngô Sỹ Hoài nhấn mạnh việc nâng cấp chất lượng nguồn nguyên liệu là điều kiện tiên quyết, thì theo TS Nguyễn Đức Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), đó mới chỉ là bước khởi đầu. Để chuyển từ xuất khẩu sản lượng sang xuất khẩu giá trị, ngành gỗ cần tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực chế biến sâu và gia tăng giá trị cho sản phẩm.
Đổi mới công nghệ sẽ giúp ngành gỗ nâng cao năng suất, bảo đảm chất lượng sản phẩm đồng đều, gia tăng biên lợi nhuận. Ảnh: Khuyến nông Quảng Trị.
Theo TS Nguyễn Đức Thành, đổi mới công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, bảo đảm chất lượng sản phẩm đồng đều, gia tăng biên lợi nhuận và chủ động thích ứng với các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc, phát thải và sản xuất xanh. Thay vì coi đây là rào cản, doanh nghiệp cần xem việc đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế là lợi thế cạnh tranh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
“Quá trình đổi mới cần tập trung vào bốn trụ cột gồm hiện đại hóa thiết bị, số hóa quản trị sản xuất và truy xuất nguồn gốc, phát triển nguồn nguyên liệu chất lượng cao, đồng thời tăng cường năng lực thiết kế, mô phỏng và tối ưu hóa sản xuất nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm gỗ Việt Nam”, chuyên gia nhấn mạnh.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, mô hình tăng trưởng của ngành gỗ cần chuyển từ "lượng" sang "chất", từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng, từ gia công sang thiết kế và xây dựng thương hiệu.
“Giai đoạn tới, Việt Nam cần nâng cao chất lượng rừng, gia tăng giá trị và nâng sức cạnh tranh. Theo đó, thước đo thành công sẽ không còn là sản lượng khai thác mà là giá trị tạo ra trên mỗi hecta rừng, mỗi mét khối gỗ, mức độ tự chủ nguyên liệu, tỷ lệ chế biến sâu, lượng carbon lưu giữ và thu nhập của người trồng rừng. Muốn vậy, cần một cơ chế đủ mạnh để phát triển nguồn gỗ lớn, chất lượng cao phục vụ chế biến sâu”, đại diện VIFOREST nhấn mạnh.
![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 4] Khoa học giống phải đi trước biến đổi khí hậu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/08/03/20260522_175127-nongnghiep-175123.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 3] Bài toán thương mại và định giá](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hoaipn88/2026/08/05/2706-1785913818751_1347192817756550942_1347192817756550942_bfaf729434e469a9411ab98a115d968e-nongnghiep-142659.jpg)

![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 2] Đắk Lắk xây dựng nền dữ liệu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sohk/2026/08/05/0837-cac-bon-rung-5-140343_847.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 1] Khánh Hòa chọn bước đi vững chắc](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sohk/2026/08/05/3026-rung-cac-bon-khanh-hoa-3-142616_918.jpg)

![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 3] Giống mới tạo sức bật](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/08/03/20260522_175610-nongnghiep-172210.jpg)
![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 2] Giữ rừng trở thành sinh kế bền vững](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sangnm/2026/08/03/4139-20260523_093930-nongnghiep-164130.jpg)
![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 1] Giống mới mở hướng phát triển rừng bền vững](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/08/03/20260522_160001-nongnghiep-161333.jpg)







![Nông dân bỏ ruộng và lời giải công cuộc tích tụ đất đai: [Bài 2] Cả xã bỏ vụ hè thu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/08/11/dsc01203-172729_424-172730-085008.jpg)









