Người gieo mầm chanh leo Việt Nam vươn tầm thế giới

Nhân dịp năm mới Bính Ngọ, Báo Nông nghiệp và Môi trường có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nafoods Group, một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp chế biến sâu và xuất khẩu nông sản.

Người nông dân gọi ông là “Vua chanh leo” vì là người đã tiên phong mang cây chanh leo Việt Nam lên bản đồ thế giới bằng cách phát triển chuỗi giá trị khép kín. Xin ông chia sẻ những suy ngẫm của mình sau 30 năm gắn với nông nghiệp?

Tôi không dám nhận là “Vua chanh leo” mà chỉ dám nhận mình là người góp phần gieo mầm chanh leo Việt Nam vươn ra trở thành số 1 của thế giới, vì sự phát triển của ngành chanh leo hôm nay, bên cạnh nỗ lực của Nafoods Group và bản thân tôi, còn là sự tin tưởng chung sức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương vùng nguyên liệu, các doanh nghiệp, HTX và khách hàng, đối tác, đặc biệt là đóng góp của đội ngũ giáo sư trong và ngoài nước, của cán bộ nhân viên Nafoods và vai trò vô cùng lớn của bà con nông dân.

15 năm về trước, Việt Nam chưa có tên trên bản đồ chanh leo thế giới. Hiện nay Tây Nguyên của Việt Nam là số 1 thế giới về chanh leo tím. Thương hiệu Nafoods đang giữ vị trí số một về xuất khẩu chanh leo cô đặc toàn cầu và là đơn vị duy nhất ở Việt Nam sau hơn 10 năm phát triển 6 giống chanh leo mang thương hiệu của mình, được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp giấy chứng nhận và chiếm hơn 70% thị trường giống chanh leo sạch bệnh tại Việt Nam

Cũng từ đó, Nafoods là đơn vị tiên phong thực hiện chuỗi giá trị chanh leo. Tức là từ nghiên cứu, sản xuất giống, phát triển vùng trồng, xây dựng nhà máy, xuất khẩu. Các tổ hợp nông nghiệp chế biến công nghệ cao từ Sơn La, Nghệ An, Gia Lai, Bình Thuận, Tây Ninh… của Nafoods xuất khẩu đi 70 nước trên thế giới không chỉ hướng tới khách hàng B2B (gián tiếp qua các sàn thương mại) mà trong 2 năm gần đây, chúng tôi phát triển các kênh khác để tiếp cận khách hàng B2C (trực tiếp).

Mục tiêu của Nafoods trong năm nay là gì, thưa ông?

Nafoods vẫn sẽ kiên định với chuỗi giá trị Nông nghiệp xanh, số hoá và bền vững. Sau khi hoàn thiện chuỗi giá trị chanh leo, Nafoods sẽ tiếp tục với cây dứa. Chúng tôi vẫn đang chọn lọc giống dứa MD2 mà doanh nghiệp đã du nhập cách đây gần 20 năm từ Nam Mỹ để sản xuất giống theo công nghệ nuôi cấy mô để phát triển và truy xuất vùng trồng xuất khẩu sang các thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản.

Chúng tôi đang nghiên cứu thêm sầu riêng và dừa, hợp tác với các khách đầu cuối cũng như đối tác trong chuỗi giá trị để phát triển và thương mại hóa các sản phẩm nông sản chế biến sâu thông qua các dự án tổ hợp sản xuất mới.

Ông nhắc nhiều tới Tây Nguyên, nơi Nafoods có nhà máy, viện sản xuất giống chanh leo. Vậy loại nông sản nào sẽ được đầu tư ở nơi này?

Ở Tây Nguyên, Nafoods đang mở rộng đầu tư nguồn lực vào cây cà phê vốn là thế mạnh của vùng cũng như là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Nafoods tiếp cận từ nghiên cứu giống cây cũng như sản xuất các sản phẩm cà phê chế biến sâu, tận dụng được hương vị đặc trưng của cà phê Việt Nam.

Cụ thể, Nafoods sẽ thành lập vùng cà phê có chứng nhận xanh, an toàn, bền vững, sau đó là bước đầu tư chế biến sâu. Mục tiêu lớn hơn là xây dựng thương hiệu cà phê rang xay và hoà tan Nafoods Việt Nam.

Trong chế biến nông sản, có một vấn đề nan giải là chất thải hữu cơ sau chế biến. Nafoods đang xử lý vấn đề này như thế nào, thưa ông?

Đây là một trăn trở của đội ngũ Nafoods. Mỗi năm chúng tôi thu mua khoảng 400.000 tấn nguyên liệu, trong tương lai đến 2030-2045 số lượng có thể gấp 2, 3 lần như chanh leo, dứa, xoài, thanh long, cà phê... Gần một nửa trong số phế phẩm được các đối tác của Nafoods xử lý thành thức ăn chăn nuôi hoặc phân bón vi sinh.

Chúng tôi đang xây dựng dựa theo kinh tế tuần hoàn đảm bảo các phế/ phụ phẩm không chỉ được xử lý mà còn tạo ra giá trị gia tăng.

Nafoods cũng xây dựng nhà máy chế biến phân vi sinh từ bã thải, để phục vụ ngược lại vùng nguyên liệu.

Nafoods sẽ nghiên cứu các chế phẩm nano, chế phẩm sinh học từ phế phụ phẩm. Quan trọng là thuốc bảo vệ thực vật phải là loại sử dụng được rộng rãi, được thế giới chấp nhận chứ không chỉ hạn chế ở Việt Nam.

Cụ thể về dịch vụ nông nghiệp mà Nafoods cung cấp sẽ là gì, thưa ông?

Thực chất mà nói, các bước đi của Nafoods đều hướng tới mục tiêu nâng cao giá trị sản phẩm bằng chế biến sâu, thay vì xuất khẩu thô. Câu hỏi là chúng ta phải làm sao để chế biến sâu, phải làm sao đưa được hàm lượng công nghệ, hàm lượng quản trị vào sản phẩm. 30 năm qua, Nafoods chưa từng dừng lại suy nghĩ này.

Cách duy nhất có lẽ là 3 trụ cột như tôi đã nói: chuyển đổi số, phát triển xanh và yếu tố con người. Chính vì vậy, Nafoods ngoài việc có Viện nghiên cứu về nông nghiệp thì mới đây còn được UBND TP.HCM cấp giấy phép thành lập Viện nghiên cứu sinh học Nano để nghiên cứu sâu về các giải pháp và sản phẩm năng cao giá trị gia tăng trong chuỗi nông nghiệp của Việt Nam.

Khát vọng của Nafoods là nơi đây sẽ đào tạo cho các sinh viên mong muốn dấn thân cho ngành nông nghiệp bằng công nghệ cao và khởi nghiệp từ đổi mới sáng tạo.

Tôi mong Viện sẽ là nơi để các giáo sư, sinh viên toàn tâm toàn ý nghiên cứu. Đó là nơi ở, nơi làm việc, chứ không cần đi thuê  bên ngoài. Đó cũng là nơi hội tụ đội ngũ khoa học nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, nano, thực phẩm cho nông nghiệp.

Những điều ông vừa nói được cụ thể hóa thế nào trong các sản phẩm của Nafoods?

Tôi nghĩ đóng góp của Nafoods cho kim ngạch xuất khẩu trong ngành nông nghiệp Việt Nam là chưa nhiều. Tuy nhiên với mục tiêu 300 - 500 triệu USD/ năm của Nafoods đến năm 2030, đây là một con số đầy khát vọng và ý nghĩa vì các sản phẩm xuất khẩu của Nafoods đều có giá trị cao, đặc biệt là các nông sản chế biến sâu. Đơn cử như cây giống, việc nghiên cứu, sản xuất cũng chứa nhiều giá trị công nghệ cao, mang lại doanh thu và biên lợi nhuận khá lớn cho Nafoods.

Bên cạnh các ngành công nghệ mang tính xu hướng thời đại, như chíp, bán dẫn, phần mềm… tôi cho thấy nông nghiệp đang chưa thật sự chú trọng, trong khi đây là ngành liên quan đến chiến lược an ninh lương thực tác động 70% dân số là bà con nông dân và mang lại giá trị xuất khẩu cao trong cơ cấu xuất khẩu Việt Nam.

Đơn cử, ngành công nghệ sinh học, thì vẫn chủ yếu phục vụ cho vacxin, còn công nghệ sinh học, thực phẩm trong nông nghiệp thì khá mờ nhạt. Hiện nay, trên thế giới, những thành tựu trong nghiên cứu cơ bản của công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học có thể thay đổi căn bản cả nền nông nghiệp và đóng góp lớn cho nền kinh tế.

Tôi đề nghị song song với việc đầu tư các ngành trọng điểm như chíp, bán dẫn… cần bổ sung ngành nông nghiệp và một số doanh nghiệp đầu tàu, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, tạo giá trị gia tăng. Thứ hai là công nghệ sinh học nên thêm ngành sinh học phân tử trong nông nghiệp, lên men, thực phẩm, chế biến nông sản. Như thế thì những doanh nghiệp như Nafoods có thể đóng góp nhiều hơn cho công cuộc vươn mình của dân tộc.

 

 

Thứ ba là cần có dữ liệu, đó là sự cụ thể hóa của việc đưa khoa học công nghệ vào nông nghiệp. Dữ liệu này cần trở thành tài sản toàn dân, là cơ sở dữ liệu để  Nhà nước có chính sách quản trị kịp thời, doanh nghiệp lập chiến lược phù hợp còn bà con nông dân tra cứu thuận tiện phục vụ canh tác. Điều này sẽ tạo ra một nền nông nghiệp được quy hoạch bài bản, khắc phục được tình trạng “trồng rồi chặt”, “được giá mất mùa”.

Thứ tư là các chính sách về đất đai, thuế, cần cụ thể hơn nữa và tạo động lực để chuyển đổi các nông lâm trường cho doanh nghiệp thuê lại cùng bà con nông dân, doanh nghiệp chuyển đổi sang chuyên canh bài bản, áp dụng cơ giới hóa, số hóa canh tác hiệu quả.

Một ý nữa mà tôi muốn đề cập là chúng ta đang khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư xây dựng đất nước. Có những ngành được Nhà nước, dư luận quan tâm ủng hộ, như đường sắt tốc độ cao. Vậy thì ngành nông nghiệp có thể tạo ra chính sách để những doanh nghiệp như Nafoods tham gia vào các dự án nông nghiệp, chế biến, công nghệ cao trọng điểm được không?

Tôi nghĩ là làm nông nghiệp rất cực. Rủi ro. Từ thời tiết đến thổ nhưỡng, đầy rẫy khó khăn và biến động. Hiện Việt Nam chúng ta có hơn 60% dân số sống tại khu vực nông thôn, gần 30% lực lượng lao động gắn chặt với nông nghiệp. Lúc bình thường, lúc khó khăn, song đóng góp của ngành nông nghiệp cho kinh tế đất nước là rất lớn.

Những ngành công nghệ cao, chúng ta đã có những doanh nghiệp như FPT, Viettel. Vậy ngành nông nghiệp cũng cần có những doanh nghiệp như vậy, tham gia vào những hạ tầng lớn và mang lại giá trị cao.

Chúng ta nên chọn lọc thay vì dàn trải. Tôi nghĩ ngành trái cây cũng vậy, cây chiến lược cũng chỉ nên đếm được trên hai bàn tay mà thôi. Khi đã chọn được rồi, thì phải có chiến lược, không thể để doanh nghiệp và nông dân tự bươn chải.

Ông đánh giá thế nào về dữ liệu, chuyển đổi số trong nông nghiệp?

Tôi nghĩ điều cần làm ngay là tích hợp chuyển đổi số quốc gia với chuyển đổi số của doanh nghiệp, làm sao các dữ liệu thời tiết, cảm biến có thể được nông dân dễ dàng truy cập.

Chúng ta đang thực hiện chính quyền hai cấp, ngành nông nghiệp có lẽ cũng cần phân quyền lớn hơn nữa cho cấp xã, cho cán bộ cơ sở. Họ chính là những người gần dân nhất, nắm địa bàn nhất, họ cần được trao quyền và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Bên cạnh đó là cần kiểm soát việc làm đúng, có cơ chế khuyến khích đội ngũ công chức có Tâm phụng sự,  không được gây phiền nhiễu cho người dân, cho doanh nghiệp.

Theo ông, cần có thêm những chính sách gì để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hơn nữa vào nông nghiệp?

Lấy ví dụ mỗi năm doanh nghiệp A phải nộp 100 tỷ đồng tiền thuế, thì họ được trích lại 20 tỷ đồng đổi mới và nghiên cứu phát triển. Con số này phải minh bạch, được kiểm toán kỹ càng, tránh việc lợi dụng để trốn thuế.

Tôi cũng mong muốn có những luật định, chế tài xử lý chuyện tranh mua tranh bán. Nhất là trong xuất khẩu, càng tranh giành không lành mạnh thì Việt Nam càng thiệt, nước ngoài càng hưởng lợi.

Do đó, cần có vai trò quản lý Nhà nước, vai trò trọng tài trong cuộc chơi này. Điều quan trọng là cơ chế phải minh bạch, công bằng, tạo sân chơi sòng phẳng cho tất cả.

Xin cảm ơn ông!

Võ Việt - Hà Linh
Trương Khánh Thiện
Tùng Đinh
Xem thêm