Trong tâm khảm của những người con xa xứ, hình ảnh quê hương thường hiện ra với cây đa, bến nước, sân đình, và đặc biệt là những lũy tre xanh bao bọc xóm thôn. Làng Thành Phú của tôi ngày xưa cũng từng mang trong mình cái hồn cốt thân thương ấy.
Tôi lớn lên cùng sự thay da đổi thịt từng ngày của quê hương, chứng kiến một cuộc chuyển mình mạnh mẽ. Tiền nhân đặt tên làng là Thành Phú, có lẽ gửi gắm ước vọng về sự trù phú, giàu sang. Và nay, điều đó đã thành hiện thực. Nhà nhà, người người đều có của ăn của để.
Thế nhưng, mỗi khi ngoái nhìn về ký ức, lòng tôi vẫn dấy lên những nỗi niềm tiếc nuối mênh mang.
Làng lên phố. Làng tôi nay đã khoác lên mình tấm áo phố phường hiện đại. Những con đường đất ngày xưa giờ được thay thế bằng nhựa phẳng lì, bê tông láng cóng. Nhà cửa san sát, những mảnh vườn rộng ngày nào giờ nhường chỗ cho những bức tường rào gạch vồ. Những căn nhà hộp diêm phân lô thẳng tắp, chật chội đua nhau hướng ra mặt đường. Đâu rồi những hàng rào dứa gai, đâu rồi những bờ dậu trà mạn được cắt tỉa vuông vắn? Tôi mỏi mắt tìm mà chẳng thấy bóng dáng hàng rào tre, bụi chẩy bao quanh nhà; chẳng còn thấy hàng dừa giơ tay vẫy gió hay những vòm xoan tím rụng đầy hoa mỗi độ tháng Ba. Cả những tàu chuối xanh non cũng vắng bóng, để gió chiều thôi không còn ai đu đưa trò chuyện.
Tre không chỉ là bóng mát, tre là lối về của tuổi thơ. Ảnh: Tô Mạnh.
Ký ức đưa tôi trôi ngược về những ngày thơ bé. Khi ấy, làng được bao bọc bởi những hàng tre "xanh tự bao giờ". Nếu ngày đó có flycam bay lượn trên cao, có lẽ làng tôi sẽ hiện ra như một hòn đảo ngọc bích, chỉ thấy một màu xanh biêng biếc trùm lên xóm thôn. Đúng như câu thơ của Thép Mới: "Tre giữ mái nhà tranh, tre giữ đồng lúa chín". Tre mọc san sát bên bờ ao, soi bóng xuống mặt hồ, ôm trọn lấy tuổi thơ của chúng tôi.
Những trưa hè oi ả, lũ trẻ chúng tôi thường tụ tập dưới vòm xanh mát rượi của lũy tre làng. Dưới gốc tre già, con trâu già nằm lim dim nhai cỏ hoặc rứt đám rơm khô. Trên tàng lá, đàn chim chích, chim sâu nhảy nhót chuyền cành ríu rít. Chúng tôi say sưa với trò bắn súng đay - thứ súng tự chế từ thân cây chẩy, đạn bay "bốp" một cái làm lũ chim giật mình dáo dác bay đi. Mấy anh lớn hơn thì dùng ná cao su bắn sỏi, tiếng cười đùa vang vọng cả một góc quê.
Có những lần nằm dưới gốc tre, tôi ngây ngô tự hỏi: Làm sao người ta có thể xếp những đốt tre chồng lên nhau cao vút như thế? Sau này xem truyện cổ tích, tôi mới "vỡ lẽ" về câu thần chú "khắc nhập, khắc xuất". Tin vào điều đó, tôi cứ mỏi cổ ngước nhìn, đếm đi đếm lại xem cây tre làng mình có cây nào đủ trăm đốt hay không. Tiếc thay, đếm mãi, chẳng cây nào thỏa mãn giấc mơ cổ tích của tôi.
Ngày ấy, tre không chỉ là bóng mát, tre còn là cuộc sống. Những ngày nông nhàn, người làng hạ tre làm vật dụng. Đôi đũa, cái rổ, cái dần, cái sàng... tất cả đều từ bàn tay khéo léo của người quê mà thành hình. Ông đan lồng gà, vót nơm cá; bà đan thúng mủng, quây cót thóc. Lũ trẻ chúng tôi cũng ké được phần, nhờ các anh lớn vót nan làm diều, lấy mủ sung dán giấy. Để rồi những chiều lộng gió, cả bọn kéo ra đồng, vừa chăn trâu vừa thả hồn theo tiếng sáo diều vi vu trên tầng không...
Tre không chỉ là bóng mát, tre là cuộc sống. Ảnh: Tô Mạnh.
Thương nhớ lũy tre làng! Nhớ lắm hình ảnh bà tôi lưng còng quét lá tre dồn đống. Thời ấy chưa có bếp ga, bếp điện, lá tre khô, lá xà cừ rụng là nguồn chất đốt quý giá, nấu cơm còn thơm hơn cả rơm rạ. Tôi nhớ cảnh những người phụ nữ làng bên gánh những gánh lá tre to tướng, nối nhau đi qua trục đường chính. Lá tre ngắn chẳng tày gang tay, vậy mà qua bàn tay khéo léo, họ bó thành từng đon chặt ních, chất cao trên xe đạp. Ngọn lửa bập bùng từ nắm lá tre khô ấy vẫn còn cháy mãi trong ký ức ấm áp của tôi.
Rồi cả con đường đến trường rợp bóng tre xanh. Dù nắng chang chang, đi dưới vòm tre vẫn thấy mát lạnh như có điều hòa tự nhiên. Gió từ hồ Mạn Định thổi vào, làm những cành tre cọ vào nhau phát ra tiếng kêu "cọt kẹt". Những ngày mưa, đường đất nhão nhoét, chúng tôi phải bám vào những gốc tre cứng cáp ven đường để dò dẫm bước đi.
Giờ đây, làng đã lên phố. Đường sá khang trang, sạch đẹp, không còn cảnh lầy lội ngày mưa. Nhưng đổi lại, những cây thị, cây đa, cây duối cổ thụ dần biến mất. Lũy tre xanh có lẽ vì buồn tủi mà cũng âm thầm rút lui, nhường chỗ cho bê tông cốt thép. Buổi trưa hè, ven đường vắng hẳn những chỗ râm mát cho người già ngồi chuyện vãn, trẻ con cũng chẳng còn chỗ chơi đùa. Làng tôi đã giàu có hơn, hiện đại hơn. Nhưng trong dòng chảy hối hả ấy, tôi cứ luyến nhớ tự hỏi liệu có bao giờ bóng tre xanh lại, trở về che mát làng tôi?























