Chuyển từ “trị bệnh” sang “quản lý sức khỏe”
Ngày 7/5, tại Cần Thơ, Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ phối hợp cùng Công Ty Cổ Phần Sản xuất Kinh doanh vật tư và Thuốc Thú Y Cần Thơ (Vemedim) và các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị Khoa học thủy sản Đại học Cần Thơ 2026 với chủ đề “Quản lý sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh trên tôm trong điều kiện hiện nay”.
Trong bối cảnh ngành tôm đang chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, hội nghị được xem là diễn đàn quan trọng nhằm kết nối nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất, tìm ra các giải pháp nuôi tôm hiệu quả và bền vững hơn.
Hội nghị Khoa học thủy sản Đại học Cần Thơ 2026 với chủ đề “Quản lý sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh trên tôm trong điều kiện hiện nay”. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Phát biểu tại hội nghị, GS.TS Trương Quốc Phú cho biết, Việt Nam hiện nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ngành tôm nước lợ giữ vị trí rất quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản quốc gia. Dù những năm gần đây ngành tôm đối mặt nhiều biến động, nhất là giai đoạn thị trường suy giảm mạnh trong năm 2023, song sản xuất vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Theo GS.TS Trương Quốc Phú, Hiệu trưởng Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ, vấn đề đáng lo ngại hiện nay là môi trường nuôi ngày càng ô nhiễm, nguồn nước chưa được quản lý chặt chẽ khiến mầm bệnh phát tán nhanh, làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh trên tôm. Nhiều bệnh nguy hiểm như đốm trắng, hoại tử gan tụy, EHP, phân trắng hay bệnh mờ đục thân tôm đang gây thiệt hại lớn cho người nuôi.
Ông cho rằng, đặc thù môi trường nước khiến việc kiểm soát dịch bệnh trên tôm khó khăn hơn nhiều so với vật nuôi trên cạn. Mầm bệnh tồn tại dai dẳng trong nước, lây lan nhanh và khó xử lý triệt để. Trong khi đó, tôm bị bệnh thường giảm ăn hoặc bỏ ăn nên hiệu quả điều trị bằng thuốc không cao.
“Để nuôi tôm thành công và giảm dịch bệnh, điều quan trọng nhất là quản lý chất lượng nước, đó là giải pháp phòng bệnh hiệu quả nhất hiện nay”, GS.TS Trương Quốc Phú nhấn mạnh.
Theo ông Phú, nuôi tôm hiện đại cần đặc biệt chú trọng bốn yếu tố then chốt gồm nguồn nước, con giống, dinh dưỡng và quản lý môi trường ao nuôi. Trong đó, nguồn nước và việc quản lý nước xuyên suốt quá trình nuôi có vai trò quyết định thành công.
Mô hình nuôi tôm tuần hoàn ứng dụng công nghệ vi sinh ở Cà Mau, hướng đến phát triển bền vững và giảm phụ thuộc kháng sinh. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Để giảm rủi ro dịch bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người nuôi cần xử lý tốt nguồn nước đầu vào thông qua ao lắng, loại bỏ chất lơ lửng và mầm bệnh trước khi cấp vào ao nuôi. Đồng thời cần tăng cường sử dụng công nghệ vi sinh, bổ sung nguồn carbon hữu cơ hợp lý để tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật có lợi phát triển, giúp hấp thu khí độc và ổn định môi trường nước.
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ sinh học cũng đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ mật độ vi sinh trong ao nuôi. Nếu phát triển quá mức, đặc biệt vào ban đêm, hệ vi sinh và tảo cùng tiêu thụ oxy có thể khiến tôm nổi đầu do thiếu oxy.
Các chuyên gia cũng lưu ý người nuôi hạn chế lạm dụng hóa chất xử lý mạnh, nhất là chlorine, bởi dễ gây sốc và ngộ độc cho tôm nếu sử dụng vượt ngưỡng cho phép.
Giải pháp sinh học trở thành xu hướng tất yếu
TS. Lê Thị Hải Yến, Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vemedim cho biết, ngành tôm hiện đối mặt nhiều áp lực từ dịch bệnh phức tạp, môi trường ao nuôi biến động mạnh, tình trạng lạm dụng kháng sinh và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường xuất khẩu về sản phẩm sạch, không tồn dư kháng sinh.
Trong bối cảnh đó, giải pháp sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu của ngành nuôi tôm hiện đại. Các chế phẩm probiotic không chỉ giúp cân bằng hệ vi sinh ao nuôi và đường ruột tôm mà còn có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh như Vibrio, phân hủy chất hữu cơ và giảm khí độc NH3, H2S trong ao.
Theo TS. Lê Thị Hải Yến, hiệu quả của probiotic phụ thuộc rất lớn vào chủng vi sinh được lựa chọn. Không phải mọi chủng vi sinh đều mang lại hiệu quả như nhau, bởi mỗi chủng có khả năng thích nghi khác nhau với điều kiện độ mặn, pH, nhiệt độ và môi trường ao nuôi thực tế.
Ngành tôm ở ĐBSCL đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, quản lý môi trường ao nuôi và sử dụng probiotic để nâng cao tỷ lệ sống, đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Các dòng vi sinh được tuyển chọn hiện nay phải đáp ứng nhiều tiêu chí như khả năng chịu mặn cao, cạnh tranh sinh học tốt, sinh enzyme hỗ trợ tiêu hóa, phân hủy hữu cơ, kích thích miễn dịch và hoạt động ổn định trong điều kiện nuôi thực tế.
Nhiều nghiên cứu được công bố tại hội nghị cho thấy các dòng Bacillus spp., vi khuẩn lactic hay vi khuẩn có lợi đang phát huy hiệu quả tích cực trong xử lý môi trường nước, hỗ trợ tiêu hóa và tăng sức đề kháng cho tôm nuôi.
Đại diện Vemedim cho biết thêm, hiện doanh nghiệp đang đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu các giải pháp sinh học phục vụ ngành thủy sản thông qua mạng lưới hợp tác với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Hiện doanh nghiệp tập trung phát triển các nhóm giải pháp về chế phẩm sinh học, cải tạo môi trường nước, khoáng và dinh dưỡng chuyên biệt, đồng thời hỗ trợ kiểm soát các bệnh nguy hiểm trên tôm như EHP, TPD, đốm trắng và phân trắng.
Các chuyên gia cũng lưu ý người nuôi hạn chế lạm dụng hóa chất xử lý mạnh, nhất là chlorine, bởi dễ gây sốc và ngộ độc cho tôm nếu sử dụng vượt ngưỡng cho phép. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Theo các chuyên gia, ngành tôm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng bằng mọi giá sang phát triển bền vững dựa trên cân bằng sinh thái. Việc chuyển từ tư duy “xử lý bệnh” sang “quản lý sức khỏe tổng thể”, từ bị động sang chủ động phòng ngừa sẽ là chìa khóa giúp ngành tôm nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và giữ vững vị thế trên thị trường xuất khẩu toàn cầu.





























![Khi lâm nghiệp là 'nhược điểm' của Nghệ An?: [Bài 4] Bất an chất lượng giống lâm nghiệp](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/192w/files/content/2026/06/11/z7872576283866_4f81655f6692697e926bad7e3deaa923-125452_625-094638.jpg)