Khảo nghiệm giống từ những vùng sinh thái khắc nghiệt
Từ những cánh rừng ngập phèn U Minh đến dải rừng ngập mặn ven biển Cà Mau, các nhà khoa học đang tìm lời giải cho bài toán phát triển rừng trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Trọng tâm là tuyển chọn giống phù hợp cho từng vùng sinh thái, nâng cao năng suất rừng trồng nhưng vẫn bảo đảm chức năng môi trường và sinh kế cộng đồng.
Từ những cánh rừng ngập phèn U Minh đến dải rừng ngập mặn ven biển Cà Mau, các nhà khoa học đang tìm lời giải cho bài toán phát triển rừng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Ảnh: Minh Sáng.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm nghiệp Tây Nam Bộ, đơn vị hiện quản lý 304,29 ha rừng nghiên cứu thực nghiệm trên các vùng đất ngập mặn, ngập phèn của tỉnh Cà Mau. Đối với riêng Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp U Minh quản lý 198,03 ha, là địa bàn triển khai nhiều nghiên cứu khảo nghiệm giống mới trên đất phèn, đất than bùn phục vụ phát triển lâm nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Ông Huỳnh Trọng Khiêm, Phó Giám đốc Trung tâm cho biết, nhiều loài cây đang được khảo nghiệm như keo lai, keo lá tràm, tràm lá dài (tràm Úc), bạch đàn lai, gáo trắng, gáo vàng... Mục tiêu là tuyển chọn giống có năng suất cao, thích nghi với đất ngập phèn, hướng tới phát triển rừng gỗ lớn và vùng nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.
Thực tế nghiên cứu cho thấy, nhiều giống cây đã được công nhận có năng suất cao, nhưng chưa hẳn sẽ phù hợp với mọi vùng sinh thái. Vì vậy, khảo nghiệm tại địa phương là bước quan trọng để lựa chọn được giống thích nghi nhất trước khi nhân rộng giống vào sản xuất. Việc lựa chọn đúng giống giúp nâng năng suất, giảm rủi ro đầu tư và tăng khả năng thích ứng của rừng trước những biến động của môi trường. Bên cạnh đó, Trung tâm định hướng đa dạng hóa cây trồng, phát triển rừng hỗn giao để tăng tính ổn định của hệ sinh thái, hạn chế sâu bệnh và giảm nguy cơ thiệt hại do biến đổi khí hậu.
Từ kết quả nghiên cứu, giai đoạn 2019-2020, Trung tâm cung cấp cây giống phục vụ trồng khoảng 120 ha tràm lá dài. Giai đoạn 2020-2023, khoảng 150 ha keo lai nuôi cấy mô được hỗ trợ tại Cà Mau và Kiên Giang thông qua Chương trình Khuyến nông Trung ương. Dự kiến giai đoạn 2027-2029, khoảng 120 ha keo lá tràm mới được công nhận sẽ tiếp tục được triển khai tại Cà Mau và An Giang. Một kết quả đáng chú ý là chương trình tuyển chọn tràm lá dài (tràm Úc).
Nhiều loài cây đang được khảo nghiệm như keo lai, keo lá tràm, tràm lá dài (tràm Úc), bạch đàn lai, gáo trắng, gáo vàng... cho kết quả tốt. Ảnh: Minh Sáng.
Tiến sĩ Kiều Tuấn Đạt, Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ cho biết: “Vùng U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau có điều kiện lập địa đất than bùn giàu dinh dưỡng, nguồn nước đầy đủ, thời tiết có 2 mùa mưa nắng nên tổng tích ôn nhiệt cao là điều kiện tốt nhất để cây rừng sinh trưởng quanh năm và rất phù hợp với các loài cây như: keo lai, keo lá tràm, bạch đàn, tràm lá dài, tràm cừ, gáo trắng,… Các giống đều có tỷ lệ sống cao, khả năng chống chịu với sâu bệnh hại và năng suất cao gấp từ 1,5 - 2 lần so với ở vùng khác”.
Theo TS. Đạt, thay vì khai thác thương mại, khu khảo nghiệm sẽ được chuyển hóa thành vườn giống để cung cấp nguồn vật liệu chất lượng cao lâu dài. Các dòng giống được định danh, lưu giữ thông tin về xuất xứ, nguồn gốc và quá trình chọn tạo, tạo nền tảng cho quản lý và bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp.
Ở quy mô rộng hơn, Viện đang quản lý, sử dụng khoảng 1.600 ha rừng và đất lâm nghiệp tại nhiều tiểu vùng sinh thái Đông Nam Bộ và ĐBSCL. Hệ thống nghiên cứu trải từ rừng ngập mặn Cà Mau, đất phèn, vùng Đông Nam Bộ đến đất cát khô hạn ven biển Nam Trung Bộ, tạo điều kiện tuyển chọn giống theo từng đặc điểm sinh thái.
Việc lựa chọn đúng giống giúp nâng năng suất, giảm rủi ro đầu tư và tăng khả năng thích ứng của rừng trước những biến động của môi trường. Ảnh: Minh Sáng.
Riêng ĐBSCL, năm 2025 có 12 giống cây lâm nghiệp mới được công nhận, gồm 3 giống Keo lá tràm phục vụ rừng gỗ lớn và 9 giống Tràm Úc năng suất cao. Trong khi tràm bản địa đạt khoảng 17-20 m³/ha/năm, Tràm Úc trước đây đạt 30-35 m³/ha/năm, một số giống mới có thể đạt tới 70 m³/ha/năm.
Để nguồn giống tốt đến được với sản xuất, Viện đã xây dựng 170 ha rừng giống, vườn giống đạt tiêu chuẩn. Nguồn giống được quản lý, số hóa thông tin và lưu giữ bằng nuôi cấy mô kết hợp hệ thống rừng giống, vườn giống hữu tính và vô tính. Sau công nhận, giống được sản xuất thử nghiệm, nhân rộng và chuyển giao thông qua hệ thống khuyến lâm.
Từ giống tốt đến hệ sinh thái và sinh kế bền vững
Nghiên cứu giống lâm nghiệp là một hành trình dài, với các loài sinh trưởng nhanh, thời gian khảo nghiệm, tuyển chọn và công nhận thường kéo dài ít nhất 36 tháng. Với cây bản địa sinh trưởng chậm, quá trình này có thể mất 5-15 năm.
Tiến sĩ Kiều Tuấn Đạt, Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ trong chuyến khảo sát, nhân rộng giống mới, phục hồi rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh: Minh Sáng.
Tại vùng ĐBSCL, khó khăn lớn nhất là điều kiện lập địa đặc thù. Trên đất phèn, việc cải tạo và xây dựng ô khảo nghiệm phải tránh phá vỡ tầng sinh phèn, ảnh hưởng đất, nước và hoạt động nuôi thủy sản. Rừng ngập mặn có cây non bị cua, còng cắn phá; vùng đất phèn chịu tác động của sâu đục thân, chuột và các loài gặm nhấm. Nền đất yếu cũng làm tăng nguy cơ cây đổ ngã khi mưa lớn, gió mạnh.
Từ những thách thức đó khiến yêu cầu của khoa học giống ngày nay không chỉ dừng ở năng suất. Giống phải thích nghi với lập địa, có khả năng chống chịu và phù hợp với mục tiêu phát triển của từng loại rừng. Đi cùng giống là quy trình trồng thâm canh, quản lý rừng bền vững và giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu.
GS.TS Võ Đại Hải, nguyên Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nhấn mạnh, công tác chọn tạo giống đóng vai trò then chốt nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Trong chuyến khảo sát tại Cà Mau, các nhà khoa học đánh giá hiện trạng suy thoái rừng ngập mặn ven biển, khả năng phục hồi rừng và các mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng. Mục tiêu tìm giải pháp vừa nâng chất lượng rừng, vừa gắn lợi ích của người dân với quản lý, bảo vệ tài nguyên.
Thực tế đặt ra bài toán cân bằng giữa độ che phủ rừng và diện tích mặt nước trong mô hình lâm - ngư. Mật độ rừng quá cao, nếu thiếu giải pháp lâm sinh phù hợp, có thể ảnh hưởng đến sản xuất thủy sản dưới tán rừng. Trong khi đó, nhiều hộ nhận khoán có diện tích nhỏ, sống giữa rừng, điều kiện hạ tầng và sinh hoạt còn hạn chế.
Theo TS. Kiều Tuấn Đạt, để khoa học đi vào thực tiễn cần tăng liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân. Mối liên kết này vừa tạo nguồn lực cho nghiên cứu, vừa giúp giống mới và tiến bộ kỹ thuật được chuyển giao nhanh hơn đến chủ rừng.
Khảo sát tại Cà Mau, các nhà khoa học đánh giá hiện trạng suy thoái rừng ngập mặn ven biển, khả năng phục hồi rừng và các mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng. Ảnh: Minh Sáng.
Với ĐBSCL, bài toán lâm nghiệp không thể chỉ đo bằng số mét khối gỗ trên mỗi ha mà giá trị của rừng còn nằm ở khả năng bảo vệ đất, nguồn nước, giảm xói lở, hấp thụ carbon, phục hồi hệ sinh thái và tạo sinh kế cho cộng đồng.
Từ phòng thí nghiệm, vườn giống, rừng giống đến những cánh rừng trên vùng đất ngập phèn, ngập mặn ở tỉnh Cà Mau và toàn vùng ĐBSCL cho thấy khoa học giống đang trở thành điểm khởi đầu của chuỗi giá trị lâm nghiệp mới. Khi giống phù hợp được kết hợp với kỹ thuật, quản lý bền vững và sinh kế dưới tán rừng, mục tiêu phát triển kinh tế có thể song hành với bảo vệ hệ sinh thái và thích ứng biến đổi khí hậu.
Theo GS.TS Võ Đại Hải, ngành lâm nghiệp đã nghiên cứu, tạo được hơn 200 giống mới. Từ mức năng suất khoảng 10 m³/ha/năm trước đây, một số giống Keo lai thử nghiệm tại Cà Mau đã đạt gần 50 m³/ha/năm. Riêng các giống tràm lá dài mới được tuyển chọn có thể đạt 70 m³/ha/năm, gần tăng gấp đôi giống trước đây khoảng 35 m³/ha/năm. Đây là bước tiến quan trọng của công tác chọn tạo giống cây lâm nghiệp sinh trưởng nhanh.

![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 1] Khánh Hòa chọn bước đi vững chắc](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/256w/files/sohk/2026/08/05/3026-rung-cac-bon-khanh-hoa-3-142616_918.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 2] Đắk Lắk xây dựng nền dữ liệu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/256w/files/sohk/2026/08/05/0837-cac-bon-rung-5-140343_847.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 2] Đắk Lắk xây dựng nền dữ liệu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sohk/2026/08/05/0837-cac-bon-rung-5-140343_847.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 1] Khánh Hòa chọn bước đi vững chắc](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sohk/2026/08/05/3026-rung-cac-bon-khanh-hoa-3-142616_918.jpg)

![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 2] Giữ rừng trở thành sinh kế bền vững](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sangnm/2026/08/03/4139-20260523_093930-nongnghiep-164130.jpg)
![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 1] Giống mới mở hướng phát triển rừng bền vững](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/08/03/20260522_160001-nongnghiep-161333.jpg)




















