Giữ ‘lá chắn xanh’ trước biến đổi khí hậu
Từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm nghiệp Tây Nam Bộ, đoàn công tác của Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ vượt hơn 100 km đến xã Đá Bạc và xã Phan Ngọc Hiển để khảo sát hệ thống vườn giống, rừng giống, đánh giá nguồn giống lâm nghiệp đã được công nhận và các mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng.
Đoàn công tác của Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ đi khảo sát hệ thống vườn giống, rừng giống, đánh giá nguồn giống lâm nghiệp đã được công nhận và các mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng trên địa bàn xã Đá Bạc và Phan Ngọc Hiển. Ảnh: Minh Sáng.
Đây không chỉ là những vùng rừng tiêu biểu của Cà Mau mà còn đại diện cho hai hệ sinh thái đặc thù của vùng cực Nam. Xã Đá Bạc thuộc vùng U Minh Hạ là rừng trên đất ngập phèn với đặc điểm là đất sét, đất than bùn với cây tràm và keo giữ vai trò chủ đạo; trong khi xã Phan Ngọc Hiển là vùng rừng ngập mặn ven biển, nơi đước, mắm tạo thành vành đai xanh lấn biển và bảo vệ đất liền.
Từ những cánh rừng từng chịu tác động của chiến tranh, cháy rừng và khai thác tài nguyên, ngày nay đã mang lại giá trị kinh tế, phòng hộ và bảo tồn đặc biệt. Tỉnh Cà Mau có hai vườn quốc gia là U Minh Hạ và Mũi Cà Mau là Khu Ramsar - vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Tuy nhiên, trước thách thức của biến đổi khí hậu, hai hệ sinh thái này cũng đứng trước những sức ép ngày càng lớn.
Vùng U Minh đối mặt với khô hạn, xâm nhập mặn, suy giảm mực nước ngầm và nguy cơ cháy rừng trên đất than bùn; khu vực Ngọc Hiển chịu tác động của nước biển dâng, xói lở bờ biển và biến động bãi bồi. Những thay đổi về điều kiện sinh thái tác động trực tiếp đến sinh trưởng của cây rừng, đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, tuyển chọn nguồn giống có khả năng thích nghi tốt hơn.
Chính sự khác biệt về điều kiện lập địa cùng mức độ nhạy cảm trước biến đổi khí hậu đã khiến U Minh và Ngọc Hiển trở thành những địa bàn quan trọng trong nghiên cứu giống lâm nghiệp. Đây vừa là nơi lưu giữ nguồn gen đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước, vừa là “phòng thí nghiệm tự nhiên” để khảo nghiệm khả năng chịu hạn, chịu phèn, chịu mặn và chống chịu sâu bệnh của các giống cây. Kết quả nghiên cứu không chỉ phục vụ bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng bền vững tại Cà Mau mà còn cung cấp cơ sở khoa học để lựa chọn giống cho những vùng có điều kiện sinh thái tương đồng ở ĐBSCL.
Bài toán giống không còn chỉ là năng suất, mà phải đồng thời giải quyết khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái biến đổi, nâng chất lượng rừng, duy trì chức năng phòng hộ và tạo giá trị kinh tế cho người dân. Ảnh: Minh Sáng.
Theo ông Ninh Văn Quang, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Lâm nghiệp Tây Nam Bộ, rừng ngày nay không đơn thuần là nguồn tài nguyên mà đã trở thành hạ tầng sinh thái, đảm nhiệm nhiều chức năng: phòng hộ bờ biển, điều hòa nguồn nước, hấp thụ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo nền tảng cho kinh tế xanh.
Tại Ngọc Hiển, giá trị ấy còn được mở rộng thông qua mô hình nuôi thủy sản sinh thái dưới tán rừng. Kết hợp bảo vệ rừng với sản xuất thủy sản vừa góp phần duy trì độ che phủ, vừa tạo sinh kế và nâng giá trị sản phẩm, qua đó tăng động lực để cộng đồng cùng tham gia giữ rừng. “Nếu như trước đây, rừng U Minh và Ngọc Hiển mang vẻ đẹp tự nhiên hoang sơ, bí ẩn và toàn là chiến lũy, thì nay hai cánh rừng này đã như “lá chắn xanh” và trở thành những di sản sinh quyển quý giá, vừa được bảo tồn nghiêm ngặt trước biến đổi khí hậu, vừa là đòn bẩy phát triển kinh tế - du lịch xanh vững chắc của tỉnh Cà Mau”, ông Quang chia sẻ.
Sự chuyển dịch vai trò của rừng cũng đặt ra yêu cầu mới đối với khoa học lâm nghiệp. Bài toán giống không còn chỉ là năng suất, mà phải đồng thời giải quyết khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái biến đổi, nâng chất lượng rừng, duy trì chức năng phòng hộ và tạo giá trị kinh tế cho người dân.
Các kết quả nghiên cứu, tuyển chọn, công nhận và làm chủ nguồn giống đã trở thành một trong những mắt xích quan trọng để Cà Mau xây dựng những cánh rừng có sức chống chịu tốt hơn trước biến đổi khí hậu, đồng thời hài hòa mục tiêu bảo tồn với sinh kế và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững.
Nghiên cứu giống - chìa khóa nâng giá trị rừng trồng
Nếu trước đây trồng rừng chủ yếu nhằm phủ xanh đất trống và cung cấp nguyên liệu, thì trước sức ép biến đổi khí hậu, yêu cầu đối với rừng trồng đã thay đổi. Không chỉ cần cho năng suất cao, rừng phải thích ứng tốt với điều kiện lập địa, nâng khả năng hấp thụ carbon, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế ổn định cho người dân.
Ông Vương Hùng Vỹ, phụ trách Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp U Minh hàng ngày đều đi canh giữ và chăm sóc rừng khảo nghiệm để chuyển giao vào sản xuất. Ảnh: Minh Sáng.
Tại Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp U Minh, bài toán này bắt đầu từ nguồn giống. Các khảo nghiệm tập trung tuyển chọn những dòng cây vừa sinh trưởng tốt, vừa thích nghi với vùng đất ngập phèn đặc thù của U Minh Hạ - nơi đang chịu tác động của khô hạn theo mùa, nguy cơ cháy rừng và những biến đổi về điều kiện sinh thái.
Ông Vương Hùng Vỹ, phụ trách Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp U Minh cho biết, đơn vị đang phối hợp với Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ khảo nghiệm nhiều dòng keo lá tràm và tràm lá dài (tràm Úc). Mục tiêu là lựa chọn nguồn giống phù hợp với điều kiện lập địa, tạo cơ sở nâng năng suất và chất lượng rừng trồng. “Mục tiêu của chúng tôi là tìm ra những giống cây tốt nhất để đưa vào sản xuất. Qua thực tế khảo nghiệm, nhiều dòng keo lá tràm và tràm lá dài sinh trưởng rất tốt trên vùng đất phèn U Minh. Sau khoảng bốn năm trồng thử nghiệm, cây phát triển ổn định, cho thấy tiềm năng lớn để nhân rộng”, ông Vỹ cho biết.
Nguồn giống chất lượng cao không chỉ giúp gia tăng năng suất mà còn góp phần hình thành những cánh rừng có khả năng hấp thụ carbon tốt hơn, tăng độ che phủ và tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho ngành chế biến gỗ. Quan trọng hơn, khi giá trị trên một đơn vị diện tích đất lâm nghiệp được nâng lên, người dân có thêm động lực gắn bó với rừng.
Thực tiễn cho thấy, hiệu quả rừng trồng không chỉ phụ thuộc vào giống mà việc chọn lập địa, lên líp đúng kỹ thuật, đến chăm sóc, tỉa cành, tỉa thưa sau khi trồng đều phải được thực hiện đồng bộ thì rừng mới cho tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt và năng suất cao cũng như khả năng chống chịu của cây trong suốt chu kỳ kinh doanh rừng.
Song song với nghiên cứu giống, Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp U Minh duy trì quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu giống vì thế không tách rời bài toán sinh kế. Khi rừng tạo được nguồn thu ổn định, người dân sẽ có thêm động lực tham gia bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng lâu dài.
Ở góc độ nghiên cứu, TS. Kiều Tuấn Đạt, Viện trưởng Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ cho biết, một phần diện tích rừng tràm ở vùng U Minh đang có dấu hiệu suy thoái khi điều kiện sinh thái thay đổi. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu những giống cây không chỉ có năng suất cao mà còn có khả năng thích nghi với điều kiện hạn, phèn và nhiễm mặn mới đáp ứng yêu cầu phục hồi hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu.
Vườn ươm cây giống lâm nghiệp tại Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp U Minh luôn chọn tạo nhiều giống cây lâm nghiệp phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau. Ảnh: Minh Sáng.
Theo TS. Đạt, nhiều năm qua, Viện đã nghiên cứu, chọn tạo nhiều giống cây lâm nghiệp phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau. Nhiều giống được Bộ NN-MT công nhận là giống mới, giống tiến bộ kỹ thuật hoặc giống quốc gia, từng bước chuyển giao vào sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng rừng trồng kinh tế, đồng thời phục vụ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và bảo tồn nguồn gen.
Đối với ngành lâm nghiệp, giống không đơn thuần là đầu vào của một chu kỳ trồng rừng, mà quyết định năng suất, chất lượng và sức chống chịu của rừng trong nhiều năm sau đó.
"Trong bối cảnh điều kiện sinh thái ngày càng biến động, nghiên cứu, chọn tạo và chuyển giao nguồn giống thích ứng đang trở thành một trong những nền tảng để nâng giá trị rừng trồng, đồng thời hài hòa ba mục tiêu: kinh tế lâm nghiệp, sinh kế người dân và thích ứng biến đổi khí hậu", ông Ninh Văn Quang chia sẻ.



![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 4] Khoa học giống phải đi trước biến đổi khí hậu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/08/03/20260522_175127-nongnghiep-175123.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 3] Bài toán thương mại và định giá](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hoaipn88/2026/08/05/2706-1785913818751_1347192817756550942_1347192817756550942_bfaf729434e469a9411ab98a115d968e-nongnghiep-142659.jpg)

![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 2] Đắk Lắk xây dựng nền dữ liệu](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sohk/2026/08/05/0837-cac-bon-rung-5-140343_847.jpg)
![Sẵn sàng cho thị trường các-bon rừng: [Bài 1] Khánh Hòa chọn bước đi vững chắc](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sohk/2026/08/05/3026-rung-cac-bon-khanh-hoa-3-142616_918.jpg)

![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 3] Giống mới tạo sức bật](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/news/2026/08/03/20260522_175610-nongnghiep-172210.jpg)
![Khoa học lâm nghiệp trong tình hình mới: [Bài 2] Giữ rừng trở thành sinh kế bền vững](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/sangnm/2026/08/03/4139-20260523_093930-nongnghiep-164130.jpg)





![Nông dân bỏ ruộng và lời giải công cuộc tích tụ đất đai: [Bài 4] Đại điền 'đỏ mắt' gom từng thửa](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/content/2026/08/13/dscf2844-225123_824-135208.jpg)






![Dùng nước thông minh: [Bài 2] Tưới ướt khô xen kẽ lợi đủ bề](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/192w/files/tungvd/2026/08/10/0503-2-nongnghiep-110457.jpg)





