Chăn nuôi Việt Nam có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa
Trong bức tranh bứt phá ngoạn mục của ngành chăn nuôi - thú y, khoa học công nghệ (KHCN) là động lực cốt lõi. Tại Hùng Nhơn, chuyển đổi số đang được triển khai toàn diện, từ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị đến phát triển các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ vận hành trang trại. Những công nghệ này giúp tối ưu quy trình sản xuất, kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hùng Nhơn. Ảnh: Trần Trung.
Chúng tôi đang từng bước định hình mô hình nông nghiệp công nghệ cao gắn với hệ sinh thái toàn diện, nơi khoa học kỹ thuật được ứng dụng xuyên suốt từ sản xuất đến quản trị. Đây là xu thế tất yếu của ngành chăn nuôi hiện đại, không chỉ dành cho các doanh nghiệp lớn mà cần lan tỏa đến từng nông hộ, HTX để tạo sự chuyển đổi đồng bộ.
Để KHCN thực sự trở thành đòn bẩy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, đặc biệt là xây dựng khung pháp lý rõ ràng, ổn định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Đồng thời, ngành chăn nuôi cần được tổ chức lại theo chuỗi liên kết chặt chẽ, từ chọn tạo giống, sản xuất thức ăn đến chăn nuôi, giết mổ và chế biến.
Một vấn đề quan trọng khác là quy hoạch vùng chăn nuôi. Cần có định hướng rõ ràng trong phát triển trang trại, phân bố hợp lý giữa các vùng, nhất là đưa chăn nuôi ra xa khu dân cư, gắn với vùng nguyên liệu và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Đây là điều kiện cần thiết để phát triển ngành theo hướng hiện đại, an toàn và bền vững.
Đổi mới tư duy và nâng cao vai trò điều hành của cơ quan quản lý là yếu tố quyết định để KHCN đi vào thực tiễn. Khi công nghệ được ứng dụng rộng rãi, ngành chăn nuôi không chỉ giảm phụ thuộc vào lao động thủ công mà còn nâng cao năng suất, cải thiện thu nhập cho người dân và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, nếu tận dụng tốt KHCN, ngành chăn nuôi Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
(Ông Vũ Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hùng Nhơn).
Chăn nuôi Việt Nam tiệm cận chuẩn quốc tế
Tôi đánh giá cao những bước tiến của ngành chăn nuôi Việt Nam trong bối cảnh đầy biến động toàn cầu. Những năm qua, từ đại dịch Covid-19 đến xung đột tại Ukraine đã gây gián đoạn chuỗi cung ứng và thị trường. Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi vẫn giữ vững vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và kim ngạch xuất khẩu.
Ông Gabor Fluit, Tổng Giám đốc toàn cầu Tập đoàn De Heus. Ảnh: Trần Trung.
Một trong những yếu tố then chốt tạo nên sự bứt phá đó chính là các quyết sách kịp thời của Chính phủ Việt Nam. Những cải cách về cơ chế, chính sách từ thúc đẩy KHCN đến tháo gỡ vướng mắc về đất đai và phát triển chăn nuôi tập trung đã góp phần tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch hơn cho doanh nghiệp.
Tại De Heus, KHCN được xác định là trụ cột chiến lược với sự đầu tư mạnh vào nghiên cứu dinh dưỡng vật nuôi, hệ thống trại thực nghiệm và hợp tác với các viện trong nước. Các ứng dụng công nghệ sinh học, tự động hóa, cải tiến giống và kiểm soát dịch bệnh đang góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, đưa chăn nuôi Việt Nam tiệm cận chuẩn quốc tế.
Hai nút thắt cần tháo gỡ của ngành chăn nuôi - thú y Việt Nam hiện nay là phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu và xây dựng vùng an toàn dịch bệnh phục vụ xuất khẩu. Tuy vậy, với lợi thế về nhân lực, khả năng tiếp cận công nghệ, cùng sự điều hành quyết liệt của Chính phủ và điều kiện tự nhiên thuận lợi, ngành chăn nuôi Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục bứt phá.
(Ông Gabor Fluit, Tổng Giám đốc toàn cầu Tập đoàn De Heus).
Khoa học công nghệ là “trục xương sống”
Ngành chăn nuôi Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi lợn đã đạt được những thành tựu nổi bật trong thời gian qua, khẳng định vị thế không chỉ trong khu vực mà còn trên thế giới.
Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y. Ảnh: Trần Trung.
Hiện nay, tổng đàn lợn của Việt Nam đạt trên 31 triệu con, đứng thứ 5 thế giới về quy mô và thứ 6 về sản lượng. Đây là kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh Việt Nam có diện tích đất đai hạn chế nhưng dân số đông, nhu cầu tiêu dùng lớn. Đó là minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của toàn ngành, từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp đến người chăn nuôi.
Không chỉ tăng trưởng về quy mô, ngành chăn nuôi còn có bước tiến mạnh mẽ về KHCN. Hầu hết các công nghệ tiên tiến trên thế giới, đặc biệt trong chăn nuôi lợn đã được ứng dụng tại Việt Nam. Sự kết hợp giữa giống nhập nội chất lượng cao với nguồn gen bản địa đang tạo nền tảng quan trọng để ngành phát triển theo hướng bền vững, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Thời gian tới, KHCN tiếp tục được xác định là “trục xương sống” của ngành. Trọng tâm là phát triển các công nghệ lõi như chọn tạo giống, sản xuất thức ăn chăn nuôi, công nghệ môi trường và kiểm soát dịch bệnh. Đây cũng là nội dung xuyên suốt trong chiến lược phát triển ngành đến năm 2030, tầm nhìn 2045 nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Luật Đất đai đã tạo nền tảng quy hoạch, hỗ trợ toàn diện, thúc đẩy chăn nuôi phát triển hiện đại, bền vững. Ảnh: Trần Trung.
Hệ thống thể chế, chính sách cho ngành chăn nuôi hiện đã tương đối đồng bộ, từ Luật Chăn nuôi, Luật Thú y đến các nghị định, thông tư hướng dẫn...
Bên cạnh đó, việc sửa đổi Luật Đất đai đã lần đầu tiên đưa đất chăn nuôi tập trung vào quy hoạch, xác lập vai trò của đất đai như một tư liệu sản xuất thiết yếu. Cùng với đó, Nghị định số 106/2024/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách nâng cao hiệu quả chăn nuôi đã bao quát toàn diện các yếu tố hỗ trợ, từ giống, thức ăn, vùng nguyên liệu đến công nghệ, môi trường và tổ chức lại sản xuất. Đây là những điều kiện quan trọng để ngành chuyển đổi theo hướng hiện đại, bền vững.
(Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y).
Đổi mới mạnh mẽ tư duy nghiên cứu
Để KHCN thực sự phát huy hiệu quả, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy nghiên cứu. Theo đó, hoạt động khoa học phải chuyển từ nghiên cứu để có đề tài sang nghiên cứu để tạo sản phẩm, lấy hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa làm thước đo.
Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Trần Trung.
Các chương trình nghiên cứu cần xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tổ chức theo chuỗi giá trị và tập trung vào các đối tượng chủ lực như lợn, bò, gia cầm. Đồng thời, cần ưu tiên làm chủ các công nghệ chiến lược như công nghệ giống, quy trình chăn nuôi tiên tiến, sản xuất vaccine và thuốc thú y cũng như hệ thống giám sát, cảnh báo dịch bệnh.
Đặc biệt, mô hình liên kết “ba nhà” (Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp) được xác định là chìa khóa để đưa các sản phẩm KHCN vào thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên, để làm được điều này, cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nhất là thủ tục hành chính và quy định liên quan đến khảo nghiệm, kiểm nghiệm sản phẩm.
Chỉ khi KHCN gắn chặt với thực tiễn, được hỗ trợ bởi cơ chế thông thoáng và sự phối hợp đồng bộ, ngành chăn nuôi - thú y Việt Nam mới có thể phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu với thế giới.
(Ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
















