| Hotline: 0983.970.780

Khi lâm nghiệp là 'nhược điểm' của Nghệ An?: [Bài 4] Bất an chất lượng giống lâm nghiệp

Thứ Năm 11/06/2026 , 09:46 (GMT+7)

Trước khi nghĩ đến viễn cảnh vươn mình thành thủ phủ lâm nghiệp của cả nước, Nghệ An phải khẩn trương giải quyết bài toán giống chất lượng kém.

Mịt mù lối thoát

Trước thời điểm thực hiện chủ trương sáp nhập trong ngành nông nghiệp và môi trường, toàn tỉnh Nghệ An có 12 đơn vị (gồm 4 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp, 5 Ban quản lý rừng phòng hộ, 1 Ban quản lý rừng đặc dụng, 2 Khu BTTN) và hơn 200 hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn các xã Nghĩa Hành, Tam Đồng (dọc đường Hồ Chí Minh) sản xuất kinh doanh giống cây lâm nghiệp, chủng loại chính là keo các loại.

Chất lượng giống cây lâm nghiệp tại Nghệ An rất đáng bàn. Ảnh: Việt Khánh.

Chất lượng giống cây lâm nghiệp tại Nghệ An rất đáng bàn. Ảnh: Việt Khánh.

Nếu đánh giá công tâm, họa lắm chỉ có Công ty TNHH MTV Lâm nông nghiệp Sông Hiếu đủ khả năng đầu tư nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất được cây giống tiêu chuẩn. Số còn lại đa phần tiềm lực yếu, triển khai dưới dạng chắp vá thành thử mức độ khả thi thấp, vô hình chung gia tăng mức độ rủi ro của công tác trồng rừng trên địa bàn Nghệ An.

Từ kết quả rà soát, đánh giá, ngành lâm nghiệp Nghệ An thừa nhận vẫn còn tình trạng sản xuất giống xô bồ, tràn lan của các hộ gia đình nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, chưa tuân thủ đầy đủ quy trình kỹ thuật, đặc biệt với các loài cây bản địa, cây trồng rừng gỗ lớn; dịch vụ mua bán cây giống trồng rừng không rõ nguồn gốc tiếp diễn thường xuyên, điều này dẫn đến nguồn giống không đảm bảo, về sau ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rừng trồng.

Giống keo hiện nay cơ bản chưa đảm bảo so với nhu cầu của thị trường. Ảnh: Việt Khánh. 

Giống keo hiện nay cơ bản chưa đảm bảo so với nhu cầu của thị trường. Ảnh: Việt Khánh. 

Quan điểm trên đúng nhưng chưa đủ, bởi lẽ không riêng gì các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, đến cả các chủ rừng là tổ chức, hay số đông các công ty lâm nghiệp đóng trên địa bàn cũng chưa thể tìm ra lời giải cho bài toán khó.

Thực chất tỉnh Nghệ An đã thấy rõ vấn đề bằng cách thông qua Đề án “Nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp giai đoạn 2024 - 2030”. Nhờ chương trình đến nay đã hỗ trợ được 70.000 cây giống gốc các dòng keo lai cho 8 vườn ươm trên địa bàn; xây dựng 10 vườn ươm cố định...

Tín hiệu tích cực là có nhưng chừng đó là quá nhỏ giọt với một tỉnh có dư địa trồng rừng lớn như Nghệ An, muốn cụ thể hóa tham vọng đưa ngành lâm nghiệp “hóa rồng” tỉnh cần có bước đột phá mang tính chiến lược và tầm cỡ hơn. Thời cơ tưởng chừng chín muồi khi Chính phủ chấp thuận chủ trương xây dựng Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ, lựa chọn Nghệ An làm đầu tàu.

Điều đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rừng trồng cuối chu kỳ. Ảnh: Khôi An.

Điều đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rừng trồng cuối chu kỳ. Ảnh: Khôi An.

Xác định mục tiêu xây dựng nền móng vững chắc, qua đó tạo động lực thúc đẩy, mời chào các “đại bàng” trong và ngoài nước tìm về đầu tư, tỉnh này đã lựa chọn doanh nghiệp “cây nhà lá vườn” là Công ty CP Tập đoàn Thiên Minh Đức làm hạt nhân, trực tiếp đầu tư Khu Trung tâm sản xuất giống lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao và khu sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ.

Dù nhận được kỳ vọng lớn lao nhưng xem ra niềm tin đã bị đặt nhầm chỗ, bởi lẽ Tập đoàn Thiên Minh Đức đang trên đà lao dốc không phanh, từ vị thế hàng đầu nay tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp này ngày càng bi đát, thê thảm. Đặt trong bối cảnh ngặt nghèo, rất khó để Thiên Minh Đức có thể ngược dòng cán đích như kế hoạch vạch ra ban đầu, dĩ nhiên ngành lâm nghiệp Nghệ An cũng... mất nhờ.   

Khó nhọc

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương được tỉnh UBND tỉnh Nghệ An giao quản lý 2.148 ha, bao gồm hơn 1.000 ha trồng keo dưới dạng liên kết với các hộ dân, áp dụng tỷ lệ 50/50. Xét tổng thể thấy rằng việc trồng rừng tại đây có nhiều lợi thế nhờ địa hình phù hợp (đất thoải, độ dốc đảm bảo), quá trình khai thác, vận chuyển thuận lợi (cung đường gần, tiết kiệm đáng kể chi phí), hộ nhận khoán có trình độ, kiến thức (huyện Đô Lương cũ là vùng đồng bằng, bán sơn địa).    

Có điều lý thuyết và thực tiễn lại là 2 vế hoàn toàn trái ngược, do tiềm lực mỏng đến nay Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương chưa thể xây dựng được hệ thống vuờn ươm quy chuẩn để phục vụ cho quá trình chọn tạo, nghiên cứu giống. Không có sự lựa chọn khả dĩ hơn, bấy lâu đơn vị này phải chủ động “đi tắt” bằng cách nhập ngang một số dòng keo cấy mô đơn thuần như BV10, BV16, BV32 từ Quảng Ninh, Bình Định, Huế về trồng, chăm sóc, sau đó chiết, ươm ra cây con phục vụ nhu cầu chung.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương chủ động mua cây giống cấy mô rồi ươm, chiết ra cây con. Ảnh: Việt Khánh.

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương chủ động mua cây giống cấy mô rồi ươm, chiết ra cây con. Ảnh: Việt Khánh.

Đầu vào không đảm bảo khiến mức độ rủi ro gia tăng, kết quả trồng rừng những năm qua là minh chứng rõ nét. Qua trao đổi, ông Phạm Văn Hùng, Trưởng phòng Kế hoạch kỹ thuật tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đô Lương chia sẻ: “Nhiều diện tích trồng keo xuất hiện tình trạng cây bị chết róc dù trước đó vẫn sinh trưởng, phát triển bình thường. Cây nhỏ hay cây trưởng thành đều bị, chúng không tuân theo bất kỳ quy luật nào, có khi chỉ xuất hiện rải rác, lúc lại lan rộng trên phạm vi lớn. Bệnh này khó đoán, hiện nay ngành lâm nghiệp vẫn chưa tìm ra phương án xử lý tối ưu. Nhìn từ diễn biến thực tế, chúng tôi dự đoán khả năng do mầm bệnh ủ sẵn trong đất, tích tụ qua nhiều chu kỳ đến lúc sẽ bùng phát.

Một loại sâu bệnh phổ biến khác gây nên hiện tượng thoái hóa giống, đa thân, keo trồng được một vài tháng sẽ phát triển dị thường, cây hình thành thành nhiều chùm, nhánh nhỏ, phân tán, không tập trung, qua thời gian nhiều cây yếu dần và chết, một số duy trì được nhưng sống lay lắt, cơ bản không đảm bảo sản lượng gỗ vào cuối chu kỳ”.

Trồng rừng ở khu vực đồng bằng còn “trầy da tróc vảy” thì hình thức trồng đơn lẻ, theo hướng được chăng hay chớ của người dân tại địa bàn miền núi còn khó nhằn hơn nhiều. Tiến hành khảo sát được biết, đa phần địa điểm trồng rừng của bà con đều xa tít mù khơi, đường đi lối lại trắc trở muôn phần, chi phí vận chuyển tốn kém, bí bách đủ bề thành thử trồng... cho có.  

Người dân vùng cao như anh Kha Văn Lăm không thể thoát nghèo nếu chỉ trông chờ vào trồng rừng đơn thuần. Ảnh: Việt Khánh. 

Người dân vùng cao như anh Kha Văn Lăm không thể thoát nghèo nếu chỉ trông chờ vào trồng rừng đơn thuần. Ảnh: Việt Khánh. 

Gia đình anh Kha Văn Lăm (SN 1982) là hộ cận nghèo của bản Bủng Sát, xã Châu Khê, được Nhà nước phân bổ 5 ha trồng rừng. 1,5 ha anh Lăm tiến hành trồng mét, số còn lại trồng keo. Trồng mét đỡ vất vả hơn, đỡ công chăm sóc nhưng có thể tận dụng khai thác quanh năm, có điều dịch bệnh vẫn thường xuyên đe dọa, rình rập nên nguồn thu ít.

Trong khi chu kỳ trồng keo kéo dài 5 – 7 năm, sau khoảng 2 - 3 năm cây thường xuyên bị dịch bệnh dẫn đến chết dần chết mòn, tiếc công tiếc của nhưng đành lực bất tòng tâm. Anh Lăm khẳng định, từ khi tham gia trồng keo đến nay gia đình mới thu hoạch duy nhất 1 lần nhưng chẳng ăn thua, gọi là lấy công làm lãi, nếu thuê mướn người làm chắc chắn sẽ lỗ chổng vó.

Anh Lăm lấy vợ năm 18 tuổi, đến nay đã có với nhau 4 mặt con, riêng cháu út mới 2 tuổi. Nhà đông miệng ăn không thể trông chờ vào mỗi công tác trồng rừng đơn thuần, ngoài chăm lo vườn tược, ruộng nương, dư dả thời gian vợ chồng phải tranh thủ kiếm việc làm thêm, ai thuê gì làm đó, chẳng nề nà nặng nhọc.

Đánh giá hiệu quả kinh tế từ công tác trồng rừng, một cán bộ phụ trách chuyên môn (xin được dấu tên) công tác tại một Công ty TNHH Lâm nghiệp trên địa bàn Nghệ An thừa nhận sự thật chua chát: “Trồng keo đơn thuần qua chu kỳ 6 - 7 năm mới cho thu hoạch, nếu diễn tiến thuận lợi đạt tổng doanh thu khoảng 100 triệu đồng/ha, trừ 30 triệu chi phí trồng, chăm sóc sẽ dư ra phần lãi thu về. Nghĩ bở ăn nhưng tính ra mỗi năm chỉ lãi khoảng 10 triệu đồng ít ỏi, chủ rừng và hộ nhận khoán chia đôi, mỗi bên lãi 5 triệu, quá bọt bèo. Nếu áp dụng trồng rừng gỗ lớn chu kỳ phải trên 10 năm, thời gian càng dài rủi ro càng lớn, có khi mất trắng”.

      

Xem thêm
Hà Tĩnh tìm cách kiểm soát, ngăn chặn dịch tả lợn châu Phi

Việc lấy mẫu bệnh phẩm là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong công tác thú y, góp phần phát hiện sớm, cảnh báo nguy cơ dịch bệnh.

Cảnh báo nguy cơ virus lở mồm long móng chủng SAT-1 xâm nhập Việt Nam

Trước nguy cơ chủng virus lở mồm long móng SAT-1 đến gần, các chuyên gia khuyến nghị tăng cường giám sát, chủ động ứng phó để bảo vệ an toàn đàn gia súc.

Phục hồi giống tỏi tía Vân Sơn

PHÚ THỌ Anh Nguyễn Duy Tư, Bí thư Đảng ủy xã Vân Sơn đang nổi trên mạng xã hội với trang 'Bí thư xứ Mường' để quảng bá du lịch, nông sản địa phương.

Đi tới tận ruộng đồng cùng nông dân

TÂY NINH Giữa vùng chuyên canh mãng cầu lớn nhất Tây Ninh, khuyến nông phường Bình Minh âm thầm kết nối tri thức với thực tiễn sản xuất, tạo động lực để nông dân bứt phá.

Cà Mau, Hà Lan hợp tác quản trị bền vững ngành tôm

Lãnh đạo Cà Mau và Tổng Lãnh sự Hà Lan vừa thảo luận thúc đẩy nông nghiệp xanh, trọng tâm là Dự án "Quản trị bền vững ngành tôm" chuẩn ESG.

Nhìn thẳng vào ‘sức khoẻ’ nhà khoa học: [Bài 6] Cần một 'liều thuốc' đủ mạnh

Giữ chân nhà khoa học không chỉ bằng thu nhập mà còn bằng môi trường nghiên cứu, cơ chế trọng dụng và niềm tin để họ yên tâm cống hiến.

Kiểm ngư tăng cường kiểm soát trên biển, kiện toàn lực lượng

Sáu tháng đầu năm, lực lượng kiểm ngư tăng cường tuần tra, xử lý vi phạm IUU; 6 tháng cuối năm tập trung hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực.

Bình luận mới nhất

Khi lâm nghiệp là 'nhược điểm' của Nghệ An?: [Bài 4] Bất an chất lượng giống lâm nghiệp
Lâm nghiệp 1 tháng trước