Trong khi chi phí xử lý một mét khối nước thải có thể cao hơn giá một mét khối nước sạch, mức thu hiện nay mới chỉ bù đắp được một phần rất nhỏ. Khoảng cách lớn giữa giá dịch vụ và chi phí thực tế không chỉ khiến các hệ thống xử lý nước thải khó vận hành bền vững, mà còn làm giảm sức hấp dẫn của các dự án đầu tư, cản trở tái sử dụng nước và chưa thực hiện đầy đủ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.
TS Hoàng Dương Tùng, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường. Ảnh: Việt Anh.
Trao đổi về vấn đề này, TS Hoàng Dương Tùng, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng, Việt Nam cần thay đổi đồng bộ từ cách định giá nước, thu và sử dụng phí nước thải đến phương thức quản lý chất lượng nguồn nước. Đặc biệt, cần từng bước chuyển từ quản lý đơn thuần theo nồng độ sang quản lý theo tải lượng và sức chịu tải của từng đoạn sông.
Mức thu hiện nay chưa phản ánh đúng chi phí của dịch vụ xử lý nước thải và cũng chưa thực hiện đầy đủ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Muốn quản lý theo tải lượng, trước hết phải đánh giá khoa học sức chịu tải của từng đoạn sông. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Không thể để “đúng quy chuẩn” nhưng dòng sông vẫn chết
Liên quan đến các quy chuẩn mới như QCVN 40:2025/BTNMT, QCVN 14:2025/BTNMT và đặc biệt là QCVN 08:2023/BTNMT về chất lượng nước mặt, ông đánh giá thế nào về tính khả thi khi một số tiêu chí được cho là khá chặt, gây khó cho địa phương và doanh nghiệp?
So với quy chuẩn phiên bản năm 2015, QCVN 08:2023/BTNMT đã chuyển từ cách phân hạng chất lượng nước gắn với mục đích sử dụng sang cách tiếp cận đánh giá trạng thái chất lượng theo từng thông số. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại.
Việc quy chuẩn ngày càng chặt chẽ hơn là một xu hướng tất yếu. Mục tiêu của quy chuẩn không phải để ngăn cản sản xuất, mà để bảo vệ dòng sông, hồ nước và hệ sinh thái. Nếu tiếp tục phát triển bằng cách chấp nhận ô nhiễm thì cuối cùng chúng ta phải đặt câu hỏi: phát triển để làm gì khi nguồn nước bị suy thoái và chi phí phục hồi ngày càng lớn?
Vì vậy, không thể chỉ vì một số tiêu chí khó thực hiện mà quay lại giữ nguyên các yêu cầu cũ hoặc nới lỏng toàn bộ quy chuẩn. Quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế cần được thể hiện bằng các yêu cầu kỹ thuật cụ thể.
Khi cách tiếp cận thay đổi nhưng chưa có hướng dẫn thực hiện đầy đủ, địa phương sẽ gặp khó khăn trong việc xác định mục tiêu chất lượng, khả năng chịu tải của từng đoạn sông và yêu cầu quản lý đối với nguồn thải. Điều này có thể dẫn đến cách áp dụng thiếu thống nhất, ảnh hưởng đến công tác cấp phép môi trường và thu hút đầu tư.
Do đó, cần rà soát để bảo đảm tính đồng bộ, ban hành các hướng dẫn giải thích rõ cách áp dụng, xây dựng dữ liệu nền và có lộ trình chuyển tiếp. Quy chuẩn đúng về mục tiêu nhưng thiếu dữ liệu, thiếu hướng dẫn và thiếu điều kiện thực hiện thì vẫn có thể trở thành chính sách khả thi trên giấy nhưng khó thực hiện trong thực tế.
Chuyển quản lý nước thải từ nồng độ sang tải lượng
Nhiều ý kiến cho rằng cần chuyển từ quản lý theo nồng độ sang quản lý theo tải lượng, thậm chí áp dụng cơ chế hạn ngạch xả thải có thể mua bán như tín chỉ carbon. Quan điểm của ông về hướng tiếp cận này như thế nào?
Đây là hướng tiếp cận cần thiết. Quản lý theo nồng độ mới chỉ trả lời câu hỏi nước thải của từng cơ sở có đạt quy chuẩn hay không. Nhưng kể cả khi từng cơ sở đều đạt quy chuẩn, nếu tổng lượng chất ô nhiễm đổ vào một dòng sông vượt quá sức chịu tải thì dòng sông vẫn có thể tiếp tục ô nhiễm.
Thực tế đã cho thấy chúng ta có nhiều quy chuẩn, nhiều cơ sở được kiểm soát theo nồng độ, nhưng không ít dòng sông vẫn ô nhiễm suy thoái. Điều đó chứng tỏ chỉ kiểm soát nồng độ là chưa đủ.
Muốn quản lý theo tải lượng, trước hết phải đánh giá khoa học sức chịu tải của từng đoạn sông. Chẳng hạn, một đoạn sông trong một ngày chỉ có khả năng tiếp nhận một lượng BOD nhất định thì tổng tải lượng xả vào đoạn sông đó không được vượt quá giới hạn này.
Trên cơ sở tổng tải lượng cho phép, cơ quan quản lý có thể phân bổ hạn ngạch cho từng cơ sở. Khi đoạn sông đã hết khả năng tiếp nhận, không thể tiếp tục cấp phép cho dự án mới chỉ vì nước thải của từng dự án đạt giới hạn nồng độ.
Về lâu dài, hạn ngạch xả thải có thể hình thành cơ chế chuyển nhượng tương tự một số công cụ thị trường môi trường. Tuy nhiên, đây không phải là việc doanh nghiệp có thể mua hạn ngạch ở bất cứ nơi nào để bù cho lượng xả thải tại một dòng sông đã quá tải. Sức chịu tải gắn với từng đoạn sông dòng sông cụ thể. Không thể giảm ô nhiễm ở dòng sông này để bù cho việc tăng ô nhiễm ở một nơi hoàn toàn khác.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là dữ liệu và phương pháp đánh giá sức chịu tải chưa đầy đủ. Vì vậy, cần thực hiện theo lộ trình, lựa chọn một số lưu vực có dữ liệu tốt để thí điểm, hoàn thiện phương pháp quan trắc, phân bổ và giám sát hạn ngạch trước khi mở rộng.
Thưa ông, hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2020. Trong dự thảo Luật sửa đổi lần này, theo ông cần điều chỉnh những chính sách nào liên quan đến phí nước thải, giá dịch vụ và quy chuẩn kỹ thuật để vừa thúc đẩy đầu tư, vừa nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường?
Theo tôi, Luật nên tập trung quy định những nguyên tắc lớn, có tính ổn định lâu dài, thay vì đưa quá sâu các mức thu hoặc yêu cầu kỹ thuật cụ thể vào luật. Những nội dung cần điều chỉnh thường xuyên nên giao Chính phủ và các bộ quy định theo từng giai đoạn.
Thu gom, xử lý nước thải và bổ cập để duy trì dòng chảy để phục hồi các dòng sông Tô Lịch. Ảnh: Thành Long.
Đối với nước thải, Luật cần thể hiện rõ nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; từng bước tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ; quản lý theo tải lượng và sức chịu tải; sử dụng tiết kiệm tài nguyên; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tái sử dụng nước; đồng thời tách chính sách an sinh khỏi chính sách giá.
Khi thủ tục tái sử dụng phức tạp hơn việc mua nước sạch, doanh nghiệp đương nhiên sẽ lựa chọn nguồn nước mới.
Muốn kinh tế tuần hoàn đi vào thực chất, phải có tiêu chuẩn đối với nước tái sử dụng, quy trình kiểm soát chất lượng rõ ràng và thủ tục đủ đơn giản để doanh nghiệp có thể thực hiện.
Đặc biệt, phân cấp cho địa phương phải đi kèm trách nhiệm. Địa phương cần đánh giá, công bố sức chịu tải của từng đoạn sông, xác định mục đích sử dụng nguồn nước và cung cấp thông tin để nhà đầu tư biết khu vực nào còn khả năng tiếp nhận nước thải, khu vực nào cần hạn chế hoặc không được tiếp nhận thêm.
Cùng với đó, cần xây dựng một nền tảng số và quy trình quản lý thống nhất trên toàn quốc đối với giấy phép môi trường, quan trắc và xả thải. Địa phương vẫn thực hiện cấp phép theo thẩm quyền, nhưng phải trên cùng một hệ thống, cùng phương pháp và cùng yêu cầu dữ liệu. Không thể để mỗi nơi hiểu và thực hiện theo một cách khác nhau.
Đặc biệt, cần tháo gỡ các rào cản đối với tái sử dụng nước. Hiện nay, có những doanh nghiệp đã xử lý nước đạt chất lượng và muốn chuyển cho cơ sở lân cận để tái sử dụng nhưng lại gặp nhiều thủ tục và thiếu quy chuẩn cụ thể cho từng mục đích sử dụng.
Hơn nữa, cải cách chính sách nước thải vì vậy không thể chỉ dừng ở việc tăng một mức phí. Điều cần thay đổi là toàn bộ cách chúng ta định giá nước, sử dụng nguồn thu, quản lý sức chịu tải, tổ chức thực thi và tạo điều kiện cho nước được tuần hoàn, tái sử dụng.
Khi giá dịch vụ phản ánh đúng chi phí, chính sách an sinh được hỗ trợ đúng đối tượng, quy chuẩn được áp dụng đồng bộ và trách nhiệm của từng cấp được xác định rõ, bảo vệ môi trường mới có thể chuyển từ yêu cầu hành chính thành một cơ chế vận hành bền vững.
Trân trọng cảm ơn ông!

























