Không hạ chuẩn, nhưng cần lộ trình phù hợp
Những năm gần đây, nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong ngành chăn nuôi đã có nhiều chuyển biến tích cực. Phần lớn các trang trại quy mô lớn đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải, hầm biogas, hồ sinh học hoặc ứng dụng công nghệ theo hướng tuần hoàn. Tuy nhiên, khoảng cách giữa yêu cầu của quy chuẩn môi trường với năng lực đầu tư, vận hành của nhiều cơ sở chăn nuôi, nhất là đối với các trang trại vừa và nhỏ vẫn còn khá lớn.
Thời gian gần đây, nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong ngành chăn nuôi đã có nhiều chuyển biến tích cực. Ảnh: Minh Sáng.
Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, là một trong những địa phương có ngành chăn nuôi phát triển nhất cả nước, Đồng Nai hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức về bảo vệ môi trường. Mặc dù địa phương đã đẩy mạnh việc rà soát, di dời các cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực dân cư, tuy nhiên thực tế vẫn còn những nơi hoạt động chưa đảm bảo quy định về môi trường.
Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cho rằng, Việt Nam đã xây dựng hệ thống quy chuẩn môi trường tương đối đầy đủ, ngày càng tiệm cận với thông lệ quốc tế. Đây là nền tảng cần thiết để bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm và hướng ngành chăn nuôi đến mục tiêu phát triển xanh, bền vững.
Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế, nhiều cơ sở đang phải gánh cùng lúc áp lực giá thức ăn, dịch bệnh, yêu cầu an toàn sinh học và chi phí xử lý môi trường. Với những trang trại có quy mô vừa và nhỏ, đầu tư hệ thống xử lý đạt chuẩn đã khó, duy trì vận hành liên tục còn khó hơn. “Điều ngành chăn nuôi cần hiện nay không phải là hạ thấp quy chuẩn mà là có lộ trình phù hợp. Người chăn nuôi cần biết từng giai đoạn phải đáp ứng tiêu chí nào để có thời gian đầu tư và thích ứng”, ông Công nói.
Việc di dời các cơ sở gây ô nhiễm hoặc nằm trong khu dân cư là cần thiết. Tuy nhiên, đối với những trang trại đang hoạt động hợp pháp, nếu yêu cầu ngay lập tức đáp ứng toàn bộ quy chuẩn ở mức cao sẽ tạo áp lực rất lớn về tài chính.
Từ thực tiễn sản xuất, Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai kiến nghị nghiên cứu phân nhóm áp dụng quy chuẩn theo quy mô trang trại, loại vật nuôi và mức độ rủi ro môi trường. Việc áp dụng lộ trình không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý hay chấp nhận hành vi gây ô nhiễm. Những cơ sở cố tình xả thải trái quy định, không vận hành hệ thống xử lý hoặc che giấu vi phạm phải bị xử lý nghiêm. Ngược lại, đối với những đơn vị đã đầu tư, có thiện chí khắc phục nhưng chưa đạt đầy đủ các chỉ tiêu do hạn chế về tài chính hoặc công nghệ, cần có hướng dẫn kỹ thuật và thời gian hoàn thiện hợp lý.
Nhiều trang trại quy mô lớn trên địa bàn Đồng Nai đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải, hầm biogas, hồ sinh học hoặc ứng dụng công nghệ theo hướng tuần hoàn. Ảnh: Minh Sáng.
Đề cập tình trạng một số cơ sở chỉ vận hành hệ thống xử lý khi có đoàn kiểm tra, ông Công nhìn nhận đây là thực tế cần được đánh giá thẳng thắn. Khi chi phí vận hành vượt quá khả năng tài chính, nguy cơ phát sinh tâm lý đối phó là có thật. Tuy nhiên, theo ông, đây không chỉ là câu chuyện về ý thức của doanh nghiệp hay người chăn nuôi mà còn là bài toán tổng thể liên quan đến chính sách, công nghệ, nguồn vốn, hướng dẫn thực hiện và cơ chế giám sát. “Nếu chỉ tăng cường thanh tra, kiểm tra mà thiếu chính sách hỗ trợ cơ sở tiếp cận công nghệ phù hợp và nguồn tín dụng xanh thì rất khó xử lý tận gốc. Kiểm tra phải đi cùng hướng dẫn, giúp cơ sở nhận diện tồn tại, lựa chọn giải pháp và có kế hoạch khắc phục cụ thể”, ông Công nhấn mạnh.
Người chăn nuôi cần được đồng hành thay vì chỉ kiểm tra
Ở góc độ người trực tiếp sản xuất, ông Lê Văn Quyết, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp công nghệ cao Long Thành Phát (Đồng Nai) cho biết, những năm gần đây, chi phí dành cho môi trường ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí chăn nuôi.
Thực tế, nhiều trang trại đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, tách phân, hồ sinh học và biogas. Tuy nhiên, ngoài chi phí đầu tư ban đầu lên tới hàng tỷ đồng, việc vận hành còn phát sinh tiền điện, nhân công, hóa chất và bảo dưỡng thiết bị. “Người chăn nuôi đều hiểu phải bảo vệ môi trường mới phát triển bền vững. Điều chúng tôi mong muốn là có thêm chính sách tín dụng ưu đãi và được tiếp cận công nghệ phù hợp để giảm chi phí vận hành”, ông Quyết chia sẻ.
Nhiều trại chăn nuôi đến này đều hiểu phải bảo vệ môi trường mới phát triển bền vững. Ảnh: Minh Sáng.
Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, hoạt động kiểm tra cần chuyển mạnh từ tư duy chỉ tập trung phát hiện sai phạm sang kết hợp giữa giám sát, hướng dẫn và phòng ngừa. Cơ quan chuyên môn cần chỉ rõ cơ sở còn thiếu hạng mục nào, công nghệ nào phù hợp, mức độ cần cải thiện và thời hạn thực hiện. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa khuyến khích cơ sở chủ động tuân thủ, hạn chế tâm lý né tránh hoặc đầu tư hệ thống xử lý chỉ để hoàn thiện thủ tục.
Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Trí Công cũng cho rằng, “lỗ thủng” trong quản lý nước thải chăn nuôi hiện nay không nằm hoàn toàn ở quy chuẩn hay ý thức người chăn nuôi mà chủ yếu ở khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Nếu chỉ tăng cường thanh tra mà thiếu hỗ trợ công nghệ, tín dụng xanh và hướng dẫn kỹ thuật thì rất khó xử lý tận gốc vấn đề. Hoạt động kiểm tra cần chuyển từ tư duy “phát hiện để xử phạt” sang kết hợp giữa giám sát, hướng dẫn và hỗ trợ khắc phục.
Biến chất thải thành tài nguyên
Một trong những giải pháp được Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai nhấn mạnh là phát triển kinh tế tuần hoàn. Phân và nước thải trong chăn nuôi sau xử lý không nên chỉ được xem là chất thải phải loại bỏ mà cần trở thành nguồn nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp. Chất thải rắn có thể được ủ thành phân hữu cơ; khí sinh học từ hầm biogas phục vụ phát điện hoặc sinh hoạt; nước sau xử lý có thể tái sử dụng tưới cây nếu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Chất thải rắn có thể được ủ thành phân hữu cơ; khí sinh học từ hầm biogas phục vụ phát điện hoặc sinh hoạt; nước sau xử lý có thể tái sử dụng tưới cây nếu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Ảnh: Minh Sáng.
Để làm được điều đó, ngoài việc hoàn thiện quy chuẩn, Nhà nước cần mở rộng tín dụng xanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ xử lý tiên tiến, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng cho việc thu gom, vận chuyển và tái sử dụng chất thải chăn nuôi.
Từ góc độ Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, ông Nguyễn Trí Công kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu bảo vệ môi trường với điều kiện thực tế của sản xuất. Cùng với hoàn thiện quy chuẩn, cần quy hoạch vùng chăn nuôi phù hợp, xác định mật độ vật nuôi trên diện tích đất, kiểm soát khoảng cách an toàn với khu dân cư và nguồn nước, đồng thời khuyến khích phát triển các mô hình liên kết chăn nuôi - trồng trọt.
"Cần rà soát, hoàn thiện quy chuẩn môi trường theo lộ trình phù hợp, mở rộng tín dụng xanh, hỗ trợ công nghệ xử lý nước thải tiết kiệm chi phí và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, biến chất thải chăn nuôi thành tài nguyên, qua đó vừa vừa giảm ô nhiễm vừa gia tăng giá trị kinh tế", ông Nguyễn Trí Công nhấn mạnh.

























