Hệ thống vẫn phải vận hành dù nguồn thu thấp
Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội - Chi nhánh Miền Trung (Urenco 15) hiện quản lý, vận hành Trạm xử lý nước thải tập trung KCN Hòa Khánh (Đà Nẵng) giai đoạn 1 với công suất thiết kế 5.000 m³/ngày đêm, tiếp nhận, xử lý nước thải cho 137 doanh nghiệp, dự án hoạt động trong KCN.
Theo bà Nguyễn Thị Nhật Thảo, Trưởng phòng Kỹ thuật công nghệ Urenco 15, nước thải từ các doanh nghiệp sau khi được thu gom về trạm sẽ lần lượt qua các công đoạn tách rác, cát, dầu mỡ và điều hòa lưu lượng. Tiếp đó, nước thải được xử lý sinh học bằng công nghệ SBR, lọc, khử trùng và quan trắc tự động, liên tục trước khi xả vào mương thoát nước đường số 4, rồi đưa ra sông Cu Đê.
Nước thải sau xử lý tại KCN Hòa Khánh hiện đáp ứng QCVN 40:2011/BTNMT, cột B, với hệ số Kf và Kq đều ở mức 0,9. Ảnh: Lan Anh.
Nước sau xử lý hiện đáp ứng QCVN 40:2011/BTNMT, cột B, với hệ số Kf và Kq đều ở mức 0,9. Để duy trì chất lượng đầu ra ổn định, hệ thống phải vận hành liên tục, các thông số kỹ thuật được theo dõi thường xuyên, còn chế độ xử lý phải điều chỉnh theo biến động về lưu lượng và thành phần nước thải đầu vào.
Trong khi yêu cầu vận hành, giám sát ngày càng cao, đơn giá dịch vụ xử lý nước thải tại KCN Hòa Khánh vẫn áp dụng theo Văn bản số 7919/SXD-HTKT do Sở Xây dựng TP. Đà Nẵng ban hành từ ngày 9/11/2020.
“Sau nhiều năm, mức giá gần như không thay đổi, trong khi chi phí điện, hóa chất, nhân công, quan trắc môi trường, bảo dưỡng và thay thế thiết bị đều tăng. Dù nguồn thu thấp, toàn bộ hệ thống vẫn phải hoạt động đầy đủ để duy trì vi sinh, bảo vệ thiết bị và bảo đảm nước sau xử lý đạt quy chuẩn”, bà Thảo chia sẻ.
Bài toán này sẽ càng khó hơn khi Thông tư số 06/2025/TT-BTNMT ngày 28/2/2025 yêu cầu từ ngày 1/1/2032, hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN Hòa Khánh thuộc đối tượng phải chuyển từ QCVN 40:2011/BTNMT sang QCVN 40:2025/BTNMT, với yêu cầu quản lý và kiểm soát chất lượng nước thải nghiêm ngặt hơn.
Quy chuẩn nước thải ngày càng khắt khe kéo theo chi phí đầu tư, vận hành và giám sát tăng cao. Ảnh: Lan Anh.
Theo bà Thảo, đối với Trạm xử lý nước thải Hòa Khánh giai đoạn 1, việc chuyển đổi có thể không chỉ dừng ở điều chỉnh một vài thông số kỹ thuật mà phải rà soát lại toàn bộ dây chuyền, bổ sung thiết bị và cải tạo nhiều hạng mục. Khi giới hạn xả thải được siết chặt, lượng hóa chất, điện năng, nhân lực kỹ thuật và tần suất giám sát cũng phải tăng tương ứng.
Cùng với yêu cầu nâng chất lượng đầu ra, tiêu chuẩn tiếp nhận nước thải đầu vào cũng phải thay đổi. Bởi lẽ, hệ thống xử lý tập trung chỉ có thể vận hành ổn định khi nước thải từ các doanh nghiệp thứ cấp được xử lý sơ bộ đạt yêu cầu trước khi đấu nối. Như vậy, áp lực chi phí không chỉ dồn lên nhà máy xử lý tập trung mà tác động đến toàn bộ chuỗi sản xuất. Các doanh nghiệp trong KCN sẽ phải bỏ thêm vốn nâng cấp hệ thống xử lý sơ bộ, tăng chi phí vận hành và duy trì thiết bị trong suốt quá trình hoạt động.
“Đơn vị kiến nghị có lộ trình áp dụng linh hoạt đối với những nhà máy xử lý nước thải tập trung đã được đầu tư và đang vận hành ổn định, qua đó tạo thời gian chuẩn bị nguồn lực, lựa chọn công nghệ và tổ chức nâng cấp”, bà Thảo nói.
Theo bà Thảo, cùng với lộ trình chuyển đổi, cần có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích đầu tư đối với chủ hạ tầng và các doanh nghiệp phải cải tạo hệ thống xử lý. Quy chuẩn đầu ra, tiêu chuẩn tiếp nhận nước thải đầu vào và đơn giá dịch vụ cần được điều chỉnh đồng bộ, tránh tình trạng yêu cầu kỹ thuật liên tục nâng lên nhưng nguồn lực thực hiện vẫn đứng yên.
Quy chuẩn phải gắn với khả năng thực hiện
Bà Đoàn Thị Ngọc Thủy, Phó trưởng phòng Xây dựng và Môi trường thuộc Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các KCN Đà Nẵng cho biết, ngay từ khâu thu hút đầu tư, thành phố đã yêu cầu hạ tầng xử lý nước thải phải được đầu tư đồng bộ từ quy hoạch, thiết kế, lựa chọn công nghệ đến tổ chức vận hành, nhằm đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp, trước đây là QCVN 40:2011/BTNMT và hiện nay là QCVN 40:2025/BTNMT.
Do nước thải công nghiệp có thành phần phức tạp, quá trình xử lý tiêu tốn nhiều điện năng, hóa chất và nhân lực kỹ thuật, chưa kể chi phí đầu tư thiết bị đo lưu lượng, hệ thống quan trắc, truyền dữ liệu, bảo dưỡng và thay thế thiết bị định kỳ. Vì vậy, yêu cầu kỹ thuật càng cao thì chi phí đầu tư, vận hành càng lớn.
Sau sáp nhập, Đà Nẵng có khoảng 19 KCN, trong đó 17 KCN đã đi vào hoạt động. Ảnh: Lan Anh.
Áp lực này thể hiện rõ nhất tại những KCN, CCN có tỷ lệ lấp đầy thấp. Dù lượng nước thải đưa về chưa nhiều, nhà máy vẫn phải duy trì hoạt động để bảo đảm quần thể vi sinh và các công đoạn xử lý không bị gián đoạn, trong khi nguồn thu dịch vụ lại phụ thuộc chủ yếu vào lưu lượng thực tế.
Từ đó phát sinh một nghịch lý, lượng nước thải càng thấp, nhà máy càng khó cân đối chi phí, nhưng nhân lực, điện năng, hóa chất và thiết bị vẫn phải duy trì đầy đủ. Nếu tình trạng này kéo dài, đơn vị vận hành sẽ thiếu nguồn lực tái đầu tư, bảo dưỡng và thay thế thiết bị xuống cấp. Khi chi phí tuân thủ vượt khả năng cân đối, nguy cơ cắt giảm công đoạn, vận hành không đầy đủ hoặc đối phó có thể phát sinh, khiến quy chuẩn dù cao cũng khó mang lại hiệu quả như kỳ vọng.
Bên cạnh áp lực chi phí, kiểm soát nước thải đầu vào cũng là thách thức lớn. Theo quy định, doanh nghiệp thứ cấp phải xử lý sơ bộ đạt tiêu chuẩn trước khi đấu nối vào hệ thống tập trung. Tuy nhiên, việc phát hiện những trường hợp xả vượt ngưỡng vào ban đêm hoặc lợi dụng thời điểm mưa lớn không dễ dàng.
Phần lớn các KCN tại Đà Nẵng đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, bảo đảm nước thải đầu ra đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Ảnh: Lan Anh.
Trong khi đó, chủ đầu tư hạ tầng phải giám sát nhiều doanh nghiệp có loại hình sản xuất, lưu lượng và thành phần nước thải khác nhau, nhưng nhân lực và phương tiện kiểm tra còn hạn chế. Chỉ một nguồn thải bất thường cũng có thể làm thay đổi tải lượng ô nhiễm, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn hệ thống. Bài toán càng phức tạp khi tốc độ lấp đầy KCN không đồng bộ với quy mô nhà máy xử lý nước thải.
Theo Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các KCN Đà Nẵng, việc nâng dần quy chuẩn là cần thiết để kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, quy chuẩn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi phù hợp với điều kiện kỹ thuật, năng lực tài chính và đặc điểm của từng khu vực.
“Khi ban hành các QCVN mới, cần phân vùng môi trường tiếp nhận sát với thực tế hơn. Đối với các khu sản xuất xả nước thải vào nguồn nước mặt không sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, có thể xem xét cơ chế linh hoạt hoặc lộ trình áp dụng phù hợp, tạo thời gian để doanh nghiệp đầu tư, nâng cấp công nghệ. Nếu tiêu chuẩn quá khắt khe, vượt khả năng tài chính và vận hành thực tế, nguy cơ phát sinh tình trạng đối phó trên diện rộng là điều cần tính đến”, bà Thủy cho biết.
Sau sáp nhập, Đà Nẵng có khoảng 19 KCN, trong đó 17 KCN đã đi vào hoạt động. Phần lớn các KCN đã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường. Riêng khu vực Đà Nẵng cũ, 100% KCN, Khu công nghệ cao và các CCN đang hoạt động đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung, bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.






















