| Hotline: 0983.970.780

Hoàn thiện Luật Dầu khí để mở không gian phát triển mới cho kinh tế biển

Chủ Nhật 14/06/2026 , 15:55 (GMT+7)

Việc hoàn thiện Luật Dầu khí cần được nhìn nhận trong tầm nhìn rộng hơn của chiến lược an ninh năng lượng và phát triển kinh tế biển.

Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, nhận định, việc hoàn thiện Luật Dầu khí cần được nhìn nhận trong tầm nhìn rộng hơn của chiến lược an ninh năng lượng và phát triển kinh tế biển. Một hành lang pháp lý hiện đại sẽ góp phần mở không gian tăng trưởng mới cho đất nước trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng.

Khai thác nguồn lực tích lũy của Petrovietnam thông qua Luật Dầu khí mới

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, năng lượng luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng duy trì tăng trưởng dài hạn. Những biến động địa chính trị trong thời gian qua đã cho thấy quốc gia nào không chủ động được nguồn năng lượng sẽ đối mặt với nhiều rủi ro trong phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc hoàn thiện Luật Dầu khí cần được đặt trong tầm nhìn rộng hơn, như một giải pháp củng cố nền tảng tự chủ năng lượng quốc gia trong dài hạn.

Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam. Ảnh: PetroTimes.

Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam. Ảnh: PetroTimes.

Đáng chú ý, lần sửa đổi luật này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển và định hướng đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới. Không gian biển hiện nay không chỉ là nơi tồn tại các hoạt động dầu khí truyền thống mà còn mở ra cơ hội phát triển nhiều lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), hydrogen, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS), dịch vụ kỹ thuật biển và các ngành công nghiệp năng lượng hiện đại.

Theo ông, một trong những giá trị quan trọng nhất của việc sửa đổi Luật Dầu khí là tạo cơ sở pháp lý để khai thác tối đa hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất, kinh nghiệm quản lý và nguồn nhân lực đã được Petrovietnam tích lũy trong hơn nửa thế kỷ qua. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để mở đường cho các ngành năng lượng mới trên biển, đồng thời góp phần hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển, thu hút đầu tư, tạo việc làm và nâng cao năng lực công nghiệp quốc gia.

TS Nguyễn Hùng Dũng cũng cho rằng, quá trình chuyển dịch năng lượng không đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn dầu khí. Trong nhiều thập niên tới, dầu khí vẫn tiếp tục đóng vai trò là nguồn năng lượng nền và là năng lượng chuyển tiếp quan trọng. Do đó, việc hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên hiện có, phát triển các mỏ cận biên, tăng hệ số thu hồi dầu khí và bảo đảm nguồn cung năng lượng trong nước vẫn là yêu cầu cần thiết.

Hoàn thiện hành lang pháp lý cho các ngành năng lượng mới

Một trong những nội dung được TS Nguyễn Hùng Dũng đặc biệt nhấn mạnh là yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng Luật Dầu khí trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu.

Theo ông, Luật Dầu khí không nên chỉ được tiếp cận như một đạo luật điều chỉnh hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí theo nghĩa truyền thống, mà cần được xem là một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái pháp luật về năng lượng biển và công nghiệp năng lượng quốc gia.

Xu hướng phát triển trên thế giới hiện nay đang chuyển từ mô hình năng lượng đơn ngành sang mô hình tích hợp, trong đó dầu khí, LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen và các giải pháp giảm phát thải như CCS/CCUS có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhiều quốc gia đã tận dụng chính hạ tầng và năng lực của ngành dầu khí để phát triển các lĩnh vực năng lượng mới. Việt Nam cũng đang sở hữu những điều kiện tương tự và cần có cơ chế pháp lý phù hợp để phát huy lợi thế này.

Theo đó, Luật Dầu khí cần được hoàn thiện theo hướng cho phép sử dụng và chuyển đổi hạ tầng dầu khí hiện hữu phục vụ các hoạt động năng lượng mới trên biển. Các công trình ngoài khơi, hệ thống đường ống, cảng biển, căn cứ dịch vụ kỹ thuật hay đội ngũ nhân lực chất lượng cao của Petrovietnam hoàn toàn có thể trở thành nền tảng cho phát triển điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh hoặc các dự án thu giữ và lưu trữ carbon trong tương lai.

Đối với CCS/CCUS, đây là lĩnh vực còn khá mới tại Việt Nam nhưng được đánh giá là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. TS Nguyễn Hùng Dũng cho rằng, Luật cần có những quy định mang tính nguyên tắc về quản lý, cấp phép, giám sát và trách nhiệm đối với hoạt động lưu trữ carbon dưới lòng đất, đồng thời tạo cơ sở để Chính phủ xây dựng các cơ chế cụ thể nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực này.

Trong khi đó, đối với điện gió ngoài khơi, việc phát huy năng lực sẵn có của Petrovietnam trong khảo sát địa chất, khảo sát biển, thi công công trình ngoài khơi, vận hành và bảo dưỡng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư, rút ngắn thời gian triển khai dự án và thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng trong nước.

Việc hoàn thiện Luật Dầu khí chính là bước chuẩn bị quan trọng để Việt Nam hình thành các chuỗi giá trị mới từ dầu khí, LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen, hóa dầu và công nghiệp biển hiện đại; góp phần nâng cao năng lực tự chủ, tăng sức chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong những thập niên tới.

Ngoài ra, Luật cũng cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dự án LNG, các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển và các mô hình tích hợp giữa khí, điện, hóa dầu, hydrogen cùng các dịch vụ năng lượng mới. Đây được xem là những lĩnh vực có khả năng tạo ra các cực tăng trưởng mới và đóng góp quan trọng cho an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn.

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, một yêu cầu rất quan trọng là tư duy xây dựng luật phải bảo đảm tính ổn định, dài hạn nhưng đồng thời đủ linh hoạt để thích ứng với tốc độ phát triển nhanh của công nghệ năng lượng. Những lĩnh vực mới như hydrogen hay CCS/CCUS vẫn đang tiếp tục hoàn thiện trên phạm vi toàn cầu, vì vậy luật nên tập trung quy định các nguyên tắc và định hướng lớn.

Trong cùng một không gian biển có thể đồng thời diễn ra các hoạt động dầu khí, điện gió ngoài khơi, sản xuất hydrogen, lưu trữ carbon, logistics biển và các dịch vụ công nghiệp hỗ trợ. Ảnh: PetroTimes.

Trong cùng một không gian biển có thể đồng thời diễn ra các hoạt động dầu khí, điện gió ngoài khơi, sản xuất hydrogen, lưu trữ carbon, logistics biển và các dịch vụ công nghiệp hỗ trợ. Ảnh: PetroTimes.

Mở đường cho hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để hình thành hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển hiện đại, thậm chí có thể đi sau nhưng về đích nhanh nếu biết tận dụng những nền tảng đã được Petrovietnam xây dựng trong hơn 50 năm qua.

Lợi thế đầu tiên là nguồn tài nguyên biển phong phú với hơn 3.260 km bờ biển cùng tiềm năng lớn về dầu khí, điện gió ngoài khơi, cảng biển, logistics và các ngành công nghiệp gắn với biển. Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng để phát triển các ngành kinh tế biển trong tương lai.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã hình thành được một hệ sinh thái dầu khí tương đối hoàn chỉnh, bao gồm hạ tầng khai thác ngoài khơi, hệ thống đường ống dẫn khí, các trung tâm điện khí, lọc hóa dầu, cảng biển chuyên dụng, căn cứ dịch vụ kỹ thuật và đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Đây chính là những tài sản chiến lược có thể được tận dụng để phát triển các ngành năng lượng mới với chi phí thấp hơn và thời gian triển khai nhanh hơn so với việc đầu tư từ đầu.

Đặc biệt, kinh nghiệm và năng lực của Petrovietnam, nhất là trong khảo sát biển, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng các công trình quy mô lớn ngoài khơi, là lợi thế mà không nhiều ngành kinh tế khác có được. Những năng lực này hoàn toàn có thể được mở rộng sang điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, lưu trữ carbon hay các trung tâm năng lượng biển tích hợp.

TS Nguyễn Hùng Dũng cho biết, xu hướng phát triển trên thế giới hiện nay không còn là các dự án riêng lẻ mà hướng tới các cụm công nghiệp - năng lượng biển tích hợp. Trong cùng một không gian biển có thể đồng thời diễn ra các hoạt động dầu khí, điện gió ngoài khơi, sản xuất hydrogen, lưu trữ carbon, logistics biển và các dịch vụ công nghiệp hỗ trợ. Mô hình này giúp tối ưu hóa hạ tầng, giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn nhiều so với cách tiếp cận đơn ngành trước đây.

Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, yếu tố quyết định vẫn là thể chế. Theo ông, Luật Dầu khí sửa đổi cần đóng vai trò như một đạo luật mở đường cho quá trình hình thành hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng biển của Việt Nam.

Cụ thể, luật cần tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác đa mục tiêu các công trình dầu khí hiện hữu; thúc đẩy sử dụng chung hoặc chuyển đổi hạ tầng phục vụ các dự án năng lượng mới; tăng cường sự liên kết giữa dầu khí với điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen và CCS/CCUS. Đồng thời, cần có các cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước vào các dự án quy mô lớn trên biển cũng như khuyến khích hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng ven biển có khả năng dẫn dắt tăng trưởng vùng.

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, quan điểm “năng lượng đi trước một bước” thực chất là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển của nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, nhu cầu về điện, khí và nhiên liệu sẽ tiếp tục gia tăng mạnh. Nếu hạ tầng năng lượng, nguồn cung năng lượng và thể chế phát triển năng lượng không theo kịp, đây sẽ trở thành điểm nghẽn đối với tăng trưởng.

Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế cho ngành Dầu khí và các lĩnh vực năng lượng liên quan cần được nhìn nhận như một giải pháp phát triển quốc gia. Không chỉ góp phần củng cố an ninh năng lượng, nâng cao năng lực tự chủ và khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài, quá trình này còn tạo nền tảng để hình thành các chuỗi giá trị mới từ dầu khí, LNG, điện gió ngoài khơi, hydrogen, hóa dầu và công nghiệp biển hiện đại.

Xa hơn, đây không chỉ là câu chuyện phát triển của riêng ngành năng lượng mà còn là bước chuẩn bị cho tương lai phát triển của đất nước, tạo động lực để Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và từng bước trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong những thập niên tới.

Xem thêm
Vùng nguyên liệu tạo sức bật cho ngành mía đường

Ngành mía đường đang chuyển trọng tâm từ mở rộng diện tích sang nâng chất lượng vùng nguyên liệu để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.

Trí tuệ nhân tạo mở hướng đổi mới quản trị trường nghề

Trí tuệ nhân tạo đang được nhiều trường nghề ứng dụng không chỉ trong giảng dạy mà còn ở quản trị, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành và chất lượng đào tạo.

Hòa Phát nộp ngân sách 8.478 tỷ đồng tại 20 tỉnh, thành trên cả nước

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Tập đoàn Hòa Phát đã đóng góp ngân sách Nhà nước 8.478 tỷ đồng tại 20 tỉnh, thành, tăng 19% so với cùng kỳ 2025.

PVcomBank lên sàn, lãi 678 tỷ quý 1 nhưng đặt mục tiêu năm 114,6 tỷ

PVcomBank sẽ đưa 900 triệu cổ phiếu lên UPCoM. Giới đầu tư bất ngờ vì ngân hàng đạt lợi nhuận 679,7 tỷ đồng quý 1 nhưng mục tiêu cả năm chỉ 114,6 tỷ đồng.

Hơn 1.200 đơn vị cấp xã chưa trả lương, kho bạc chốt hạn 15/9

Kho bạc Nhà nước vừa ra công điện yêu cầu cấp xã hoàn thành mở tài khoản và chi trả lương đúng hạn, trong bối cảnh còn gần 500 đơn vị chưa mở tài khoản.

Đề xuất điều chỉnh quy định về ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên

Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định về thuế tài nguyên tập trung tháo gỡ vướng mắc về ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên.

Bình luận mới nhất

Hoàn thiện Luật Dầu khí để mở không gian phát triển mới cho kinh tế biển
Kinh tế 1 tháng trước