Mục tiêu cơ cấu lại hàng hóa và thị trường xuất khẩu
Theo kế hoạch số 22/KH-UBND, Hà Nội định hướng nâng tỷ trọng các nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, sản phẩm công nghệ cao, nông nghiệp và thực phẩm chế biến, sản phẩm xanh và các mặt hàng có giá trị gia tăng cao. Thành phố đồng thời chú trọng mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, từng bước giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, qua đó nâng cao sức cạnh tranh và năng suất lao động của doanh nghiệp.
Hà Nội bứt phá xuất khẩu, với mục tiêu tạo chuyển biến về cơ cấu hàng hóa, thị trường và hiệu quả xuất khẩu, đóng góp cho tăng trưởng GRDP của Thủ đô năm 2026. Ảnh: Nguyễn Hà.
Năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội được kỳ vọng tăng từ 7% - 15% tùy theo khu vực thị trường và nhóm ngành hàng. Các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN tiếp tục được duy trì nhịp tăng trưởng ổn định, trong khi xuất khẩu sang các thị trường có hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, UKVFTA, RCEP, VIFTA và CEPA được kỳ vọng ghi nhận mức tăng cao hơn. Bên cạnh đó, thành phố hướng tới khai thác sâu hơn các thị trường còn nhiều dư địa như Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh.
Về ngành hàng, nhiều lĩnh vực chủ lực được đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trong đó, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện dự kiến tăng 11 - 14%; máy móc, thiết bị và phụ tùng tăng 10 - 12%; dệt may tăng 10 - 13%; da giày và sản phẩm từ da tăng 10 - 12%. Các nhóm nông sản, thực phẩm chế biến, gỗ và sản phẩm gỗ, thủ công mỹ nghệ, gốm sứ cũng được kỳ vọng duy trì mức tăng từ 10% đến 18% tùy mặt hàng. Riêng điện thoại và linh kiện dự kiến tăng 8 - 10%, trong khi xăng dầu tạm nhập tái xuất ổn định theo nhu cầu thị trường.
Kế hoạch cũng phân định rõ chỉ tiêu theo nhóm doanh nghiệp. Doanh nghiệp FDI được định hướng tăng trưởng xuất khẩu 10 - 12%, gắn với nâng tỷ lệ nội địa hóa nguyên liệu đầu vào. Doanh nghiệp lớn trong nước phấn đấu tăng 12 - 13% kim ngạch xuất khẩu và mở rộng số doanh nghiệp đạt mức trên 100 triệu USD mỗi năm. Với khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, mục tiêu là gia tăng số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 10 - 15%, trong đó ít nhất 30% doanh nghiệp thụ hưởng chính sách hỗ trợ của thành phố có thêm đơn hàng mới. Làng nghề và sản phẩm OCOP được kỳ vọng tăng tối thiểu 20% số sản phẩm tham gia xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp logistics và thương mại điện tử xuyên biên giới mở rộng quy mô tham gia chuỗi cung ứng và giao dịch quốc tế.
Song song với đó, Hà Nội chú trọng hoàn thiện hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu. Số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics trong nước dự kiến tăng ít nhất 10%, chi phí logistics trong chuỗi xuất khẩu được điều chỉnh theo hướng hợp lý, số sản phẩm có khả năng truy xuất nguồn gốc điện tử tiếp tục gia tăng. Thành phố cũng đặt mục tiêu mở rộng việc ứng dụng nền tảng thương mại điện tử trong giao dịch quốc tế và nâng số lượng đơn hàng được ký kết thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm và kết nối cung - cầu.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số và khoa học công nghệ, kế hoạch hướng tới việc mở rộng số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị sản xuất, chuỗi cung ứng và quản lý dữ liệu xuất khẩu, đồng thời gia tăng số doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn và chứng nhận chất lượng theo yêu cầu thị trường. Nhiều sản phẩm của Hà Nội được kỳ vọng sẽ xây dựng được thương hiệu và nhãn hiệu tại thị trường nước ngoài, góp phần nâng cao hình ảnh hàng hóa Thủ đô.
Giải pháp đồng bộ để hiện thực hóa mục tiêu
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, thành phố xác định tập trung khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống, đồng thời tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và mở rộng sang những thị trường giàu tiềm năng. Các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh cao tiếp tục được ưu tiên phát triển, gắn với định hướng gia tăng chế biến sâu, giảm xuất khẩu thô, phát triển sản phẩm xanh, sản phẩm văn hóa sáng tạo và OCOP phục vụ xuất khẩu.
Hà Nội cũng định hướng đầu tư đồng bộ hạ tầng logistics như kho bãi, cảng cạn, trung tâm logistics đa phương thức và kết nối hiệu quả giữa cảng biển, đường sắt, sân bay và đường cao tốc, song song với phát triển logistics xanh và áp dụng tiêu chuẩn môi trường trong vận tải, lưu trữ hàng hóa. Cùng với đó là việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến thương mại quốc tế, xây dựng và quảng bá thương hiệu, cải thiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực thương mại, thuế và hải quan, cũng như gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và hiệp hội ngành hàng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho hoạt động xuất khẩu.



























