Việt Nam hiện có gần 1 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), chiếm 97-98% tổng số doanh nghiệp, nhưng hơn 90% có vốn dưới 10 tỉ đồng. Quy mô nhỏ khiến khả năng chống chịu rất hạn chế, chỉ cần một đơn hàng bị hủy hoặc chi phí tăng đột biến cũng đủ gây khó khăn.
Gói 220.000 tỉ đồng: Làm sao để doanh nghiệp nhỏ thực sự vay được?. Ảnh: Minh Anh.
Điều kiện vay vẫn là rào cản lớn nhất
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7 vừa diễn ra ngày 3/8, ông Phạm Thanh Hà, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, các ngân hàng thương mại nhà nước đã đăng ký dành số tiền 220.000 tỉ đồng cho chương trình tín dụng ưu đãi hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cùng các lĩnh vực ưu tiên. Gói tín dụng này được kỳ vọng tạo thêm động lực cho phục hồi kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề đặt ra không nằm ở quy mô nguồn vốn mà ở khả năng tiếp cận thực tế: Doanh nghiệp nào vay được và vốn có đi vào sản xuất hay không.
Trong nhiều năm qua một trong những khó khăn lớn của DNNVV là rào cản tiếp cận tín dụng. Thực tế cho thấy một nghịch lý kéo dài: Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng, có thị trường, có dòng tiền nhưng vẫn không vay được vốn. Nguyên nhân chính là cách thẩm định tín dụng vẫn dựa nặng vào tài sản thế chấp.
Hiện chỉ khoảng 9,3% DNNVV tiếp cận được vốn ngân hàng, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp lớn vượt 56%. Đáng chú ý, khoảng 30% DNNVV đã hoạt động trên 5 năm tức đã qua giai đoạn rủi ro cao nhưng vẫn không vay được.
Phần lớn DNNVV không có nhiều bất động sản hay tài sản giá trị lớn. Tài sản quan trọng nhất của họ là hợp đồng, đơn hàng, dữ liệu khách hàng và khả năng tạo dòng tiền. Khi những yếu tố này chưa được coi là cơ sở thẩm định chính, cơ hội tiếp cận vốn gần như bị thu hẹp từ đầu.
Nếu gói 220.000 tỉ đồng tiếp tục vận hành theo logic cũ, dòng vốn nhiều khả năng vẫn tập trung vào nhóm doanh nghiệp đã đủ điều kiện, thay vì đến đúng đối tượng cần hỗ trợ.
Cần chuyển từ tài sản sang dòng tiền
Theo các chuyên gia kinh tế, muốn vốn chảy đúng địa chỉ, ngân hàng phải thay đổi cách đánh giá rủi ro. Trọng tâm cần chuyển từ “doanh nghiệp có gì” sang “doanh nghiệp tạo ra gì”.
Các yếu tố như hợp đồng đầu ra, hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, lịch sử thanh toán và vị trí trong chuỗi cung ứng phải trở thành tiêu chí chính. Một doanh nghiệp có hợp đồng ổn định với đối tác lớn rõ ràng có mức độ rủi ro khác với doanh nghiệp chưa có thị trường.
Cho vay dựa trên dòng tiền không phải là nới lỏng tín dụng, mà là cách tiếp cận hiện đại, phản ánh đúng bản chất kinh doanh và giúp phân bổ vốn hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, sự thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp cũng phải nâng cấp chính mình. Minh bạch tài chính là điều kiện tiên quyết. Báo cáo kế toán phải phản ánh đúng thực trạng, dòng tiền phải được kiểm soát và phương án kinh doanh phải có cơ sở thị trường rõ ràng. Chỉ khi dữ liệu đủ tin cậy, ngân hàng mới có thể đánh giá chính xác và ra quyết định cho vay.
Nhiều doanh nghiệp không dám vay vì lo không tiêu thụ được sản phẩm. Ảnh: NNMT.
Bên cạnh đó, ngay cả khi vay được vốn, doanh nghiệp vẫn phải trả lời được câu hỏi bán cho ai? Trong bối cảnh sức mua phục hồi chậm, chi phí đầu vào tăng và cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp không dám vay vì lo không tiêu thụ được sản phẩm. Rủi ro vay vốn rồi không có doanh thu có thể khiến dòng tiền đứt gãy.
Kết nối thị trường để kích hoạt tín dụng
Điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp dám vay là phải có đầu ra ổn định. Nhà nước cần đóng vai trò kết nối, tạo cơ hội để DNNVV tham gia vào các dự án đầu tư công, mua sắm công và chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn, đặc biệt là khu vực FDI.
Doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết đảm nhận ngay các gói thầu lớn. Họ có thể bắt đầu từ vai trò nhà thầu phụ, cung cấp linh kiện, nguyên liệu hoặc dịch vụ. Khi có hợp đồng ổn định, doanh nghiệp không chỉ tăng doanh thu mà còn nâng cao uy tín tín dụng, giúp ngân hàng dễ dàng thẩm định và cho vay.
Việc tham gia chuỗi cung ứng cũng giúp doanh nghiệp cải thiện quản trị, tiêu chuẩn chất lượng và năng lực công nghệ nền tảng quan trọng để phát triển bền vững.
Giảm lãi suất là cần thiết, nhưng không đủ. Một doanh nghiệp không có lợi nhuận sẽ không hưởng lợi từ giảm thuế; không có đất sản xuất thì không thể mở rộng; không có thị trường thì không dám vay vốn.
Do đó, chính sách cần triển khai đồng bộ: Tín dụng, thuế, đất đai, thủ tục hành chính, công nghệ và đào tạo. Đặc biệt, các quỹ bảo lãnh tín dụng cần được cải tổ mạnh mẽ. Hiện nay, số doanh nghiệp được bảo lãnh còn ít do quy trình phức tạp và cơ chế chia sẻ rủi ro chưa rõ ràng. Cần rút ngắn thời gian xử lý, số hóa quy trình và liên thông dữ liệu giữa ngân hàng, cơ quan thuế và đăng ký kinh doanh.
Bên cạnh đó, nguồn vốn ưu đãi cần được phân bổ có trọng tâm, ưu tiên các dự án đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và công nghiệp hỗ trợ những lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao năng suất.
Thành công của gói tín dụng không nên đo bằng tổng số tiền cam kết, mà bằng số doanh nghiệp thực sự vay được, tốc độ giải ngân, cơ cấu kỳ hạn và tác động đến sản xuất. Nếu sau một thời gian triển khai, vốn vẫn chủ yếu chảy vào nhóm doanh nghiệp đã đủ điều kiện, chính sách cần được điều chỉnh kịp thời.
DNNVV không cần ưu đãi dễ dãi. Họ cần một cơ chế phù hợp hơn với thực tế, được đánh giá dựa trên khả năng tạo ra giá trị và dòng tiền, thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp. Gói tín dụng 220.000 tỉ đồng có thể trở thành cú hích quan trọng, nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi giải được ba bài toán cùng lúc: Tiếp cận vốn, đầu ra thị trường và điều kiện phát triển dài hạn.
Khi doanh nghiệp nhìn thấy thị trường và tin vào môi trường kinh doanh, họ mới dám vay, dám đầu tư và mở rộng. Khi đó, dòng vốn mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng, thay vì chỉ là con số trên giấy.
Trong 7 tháng năm 2026, hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, trung bình hơn 22.000 doanh nghiệp mỗi tháng. Con số này cho thấy nếu không giải quyết bài toán thị trường, tín dụng lớn đến đâu cũng khó phát huy tác dụng.












![Sắn vào chu kỳ giá: [Bài cuối] Ethanol tạo động lực mới](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/trungtd/2026/07/31/2836-dscn2732-111802_500.jpg)












