| Hotline: 0983.970.780

Giữ nguồn nước trước El Niño: [Bài 3]: Thuận thiên mở lối thích ứng

Thứ Ba 04/08/2026 , 08:38 (GMT+7)

ĐBSCL Sau đợt hạn mặn lịch sử 2015-2016, ĐBSCL đã chuyển từ tư duy chống hạn sang quản trị tài nguyên nước, nâng cao khả năng thích ứng trước nguy cơ El Niño mạnh trở lại.

Từ chống hạn sang quản trị tài nguyên nước

Năm 2016 được xem là dấu mốc đặc biệt trong lịch sử ĐBSCL đối mặt đợt hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt nhất trong nhiều thập niên đã khiến hàng trăm nghìn hecta cây trồng bị thiệt hại, hàng triệu người dân thiếu nước sinh hoạt. Từ cú sốc ấy, cả hệ thống chính quyền lẫn người dân vùng đồng bằng đã thay đổi cách nhìn về nước, về hạn mặn.

Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé góp phần kiểm soát linh hoạt nguồn nước ngọt, lợ, mặn cho hàng trăm nghìn hecta sản xuất ở vùng Tây sông Hậu, nâng cao khả năng thích ứng với hạn mặn của ĐBSCL. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé góp phần kiểm soát linh hoạt nguồn nước ngọt, lợ, mặn cho hàng trăm nghìn hecta sản xuất ở vùng Tây sông Hậu, nâng cao khả năng thích ứng với hạn mặn của ĐBSCL. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Mười năm trôi qua, trong bối cảnh các cơ quan khí tượng dự báo El Niño gần như chắc chắn duy trì từ giữa năm 2026, tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm và có khả năng kéo dài sang đầu năm 2027 với xác suất xuất hiện El Niño rất mạnh từ 60-65%, câu hỏi đặt ra là ĐBSCL đã tăng sức chống chịu đến đâu trước những biến động ngày càng cực đoan của thiên nhiên?

Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn, Cố vấn khoa học Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu (Trường Đại học Cần Thơ), khác biệt lớn nhất của ĐBSCL hiện nay so với năm 2016 chính là sự thay đổi trong tư duy quản trị nước.

Nếu như trước đây nhiều địa phương tập trung vào mục tiêu ngăn mặn bằng mọi giá thì hiện nay cách tiếp cận đã chuyển dần sang thích ứng và điều tiết nguồn nước theo hướng thuận thiên. Thay vì xem nước mặn hoàn toàn là thiên tai, nhiều nơi đã coi đây là một phần của hệ sinh thái tự nhiên để tổ chức sản xuất phù hợp.

Ông Tuấn cho rằng, hạn mặn hiện nay vẫn diễn biến phức tạp do nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong ngày càng suy giảm. Qua nhiều đợt khảo sát thực tế, ông nhận thấy những năm gần đây mặn thường xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng một tháng. Có thời điểm ranh mặn 4g/l xâm nhập sâu từ 50-65km, nơi sâu nhất lên đến 70km.

Tuy nhiên, thiệt hại thực tế đã giảm đáng kể so với năm 2016 nhờ các địa phương chủ động hơn trong công tác dự báo, điều tiết nguồn nước và tổ chức sản xuất.

“Phải đặt thích ứng làm trọng tâm, lồng ghép giải pháp ứng phó hạn mặn trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Hạn chế tư duy đối đầu mà cần học cách sống chung với điều kiện tự nhiên của vùng”, PGS.TS Lê Anh Tuấn nhận định.

Theo ông Tuấn, xâm nhập mặn không nên được nhìn nhận hoàn toàn là thiên tai. Nhiều vùng ven biển đã tận dụng nguồn nước lợ, nước mặn để phát triển nuôi trồng thủy sản, mô hình tôm - lúa hay các hệ sinh thái sản xuất đa giá trị mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với canh tác độc canh lúa.

Khái niệm “thuận thiên” trong quản trị tài nguyên nước cũng không đơn thuần là chấp nhận thiên nhiên, mà là hiểu rõ quy luật vận động của nước, của mặn, của mùa khô để bố trí sản xuất phù hợp, sử dụng hiệu quả từng nguồn nước và giảm thiểu những can thiệp làm mất cân bằng hệ sinh thái.

Ông Huỳnh Vinh Võ, ở xã Bình An, tỉnh An Giang, cho biết gia đình đang phát triển mô hình sản xuất “3 tầng” gồm khóm, cau và dừa trên diện tích đất 1,7ha nằm ven sông Cái Bé .

Theo ông Võ, trước đây mỗi năm cứ vào mùa khô, nước mặn xâm nhập khiến cây trồng sinh trưởng kém, năng suất thấp. Từ khi hệ thống Cái Lớn - Cái Bé đi vào hoạt động, nguồn nước được kiểm soát ổn định hơn, chi phí sản xuất giảm và lợi nhuận đạt khoảng 150 triệu đồng/ha/năm.

Nhờ chủ động nguồn nước từ hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, nhiều nông hộ ở tỉnh An Giang phát triển các mô hình sản xuất đa tầng sinh thái, nâng cao thu nhập và giảm rủi ro do xâm nhập mặn. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Nhờ chủ động nguồn nước từ hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, nhiều nông hộ ở tỉnh An Giang phát triển các mô hình sản xuất đa tầng sinh thái, nâng cao thu nhập và giảm rủi ro do xâm nhập mặn. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Không chỉ người dân vùng cây ăn trái được hưởng lợi, các khu vực sản xuất lúa, mô hình tôm - lúa, lúa - cá tại Gò Quao, An Biên, Vĩnh Thuận cũng chủ động hơn trong việc lấy nước ngọt hoặc điều tiết nước lợ phục vụ sản xuất.

Còn ông Lê Quốc Khanh, nông dân xã An Biên, cho biết trước đây mỗi mùa khô đều thấp thỏm lo đất ruộng bị nhiễm mặn. Hiện nay, việc chủ động nguồn nước giúp người dân mạnh dạn xây dựng các mô hình sản xuất đa dạng hơn, từng bước nâng cao thu nhập.

Theo ông Trang Hồng Nghĩa, Chủ tịch UBND xã Gò Quao (An Giang), hệ thống Cái Lớn - Cái Bé đã góp phần hạn chế đáng kể tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, giúp địa phương kiểm soát nguồn nước hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó, xã đang triển khai nhiều mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu và đảm bảo đủ nguồn nước phục vụ trong sãn xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt.

Mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện nước ngọt, lợ luân phiên đang được nhiều địa phương vùng ven biển ĐBSCL nhân rộng theo định hướng phát triển thuận thiên trước tác động của biến đổi khí hậu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ. 

Mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện nước ngọt, lợ luân phiên đang được nhiều địa phương vùng ven biển ĐBSCL nhân rộng theo định hướng phát triển thuận thiên trước tác động của biến đổi khí hậu. Ảnh: Lê Hoàng Vũ. 

An ninh nguồn nước là thách thức lâu dài

Sau đợt hạn mặn lịch sử, hàng loạt công trình điều tiết nước quy mô lớn đã được đầu tư tại ĐBSCL. Tiêu biểu là hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé với tổng vốn hơn 3.300 tỷ đồng, được xem là công trình thủy lợi lớn nhất ĐBSCL, đưa vào vận hành từ cuối năm 2021.

Sau gần 6 năm vận hành, công trình đã cơ bản đáp ứng mục tiêu kiểm soát linh hoạt nguồn nước ngọt, lợ và mặn trên diện tích tự nhiên hơn 384.000ha, phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản cho nhiều địa phương thuộc An Giang, Cần Thơ và Cà Mau.

Không chỉ đầu tư các công trình thủy lợi lớn, nhiều địa phương khác vùng ven biển còn tăng cường năng lực bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân.

Tại vùng Dự án Ngọt hóa Gò Công (Đồng Tháp), hệ thống cống điều tiết hiện được vận hành thường xuyên để vừa phục vụ sản xuất, vừa giải quyết ô nhiễm môi trường và chủ động ứng phó với diễn biến bất thường của thời tiết.

Ông Phan Văn Nhã, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Tiền Giang, cho biết: Hệ thống cống trong vùng dự án đang vận hành hiệu quả, góp phần điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất lúa, rau màu và sinh hoạt của người dân.

Song song đó, nhiều công trình cấp nước tập trung được đầu tư mới hoặc nâng cấp. Nhiều hộ dân cũng chủ động xây dựng bồn chứa, hồ chứa, ao trữ nước mưa để sử dụng trong mùa khô.

Đầu tư hạ tầng cấp nước sinh hoạt và chủ động tích trữ nước ngọt đang trở thành giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước cho người dân ĐBSCL trước nguy cơ El Niño mạnh quay trở lại. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Đầu tư hạ tầng cấp nước sinh hoạt và chủ động tích trữ nước ngọt đang trở thành giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước cho người dân ĐBSCL trước nguy cơ El Niño mạnh quay trở lại. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn, nguồn nước sinh hoạt phải được xem là ưu tiên hàng đầu trong mọi kịch bản ứng phó hạn mặn.

Ông Tuấn cho rằng các đơn vị cấp nước cần tính toán phương án lấy nước từ thượng nguồn, di dời nhà máy nước hoặc từng bước ứng dụng công nghệ xử lý nước mặn thành nước ngọt nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài.

Về sản xuất nông nghiệp, ông Tuấn khuyến cáo cần tiếp tục điều chỉnh cơ cấu cây trồng theo hướng giảm diện tích lúa ở những vùng không chủ động được nguồn nước ngọt. Thay vào đó là phát triển các loại cây trồng sử dụng ít nước hơn hoặc chuyển sang mô hình nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện nước lợ, nước mặn.

Theo ông Tuấn, dù ĐBSCL đã tiến những bước dài trong hành trình sống chung với hạn, mặn nhưng vẫn chưa thể nói đồng bằng hoàn toàn chủ động trước các hiện tượng khí hậu cực đoan.

Điểm yếu lớn nhất hiện nay là nguồn nước từ thượng nguồn Mekong ngày càng khó dự báo, trong khi nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, sinh hoạt vẫn tiếp tục gia tăng. Nhiều khu vực vẫn thiếu công trình trữ nước quy mô phù hợp và chưa tận dụng hiệu quả nguồn nước mưa trong mùa lũ.

“Ngay từ hôm nay cần chủ động tích trữ nước ngọt, tăng cường quan trắc và dự báo hạn mặn, xây dựng thêm các mô hình sinh kế thuận thiên. Ở những khu vực không đủ điều kiện sản xuất, thậm chí có thể để đất nghỉ trong mùa hạn mặn thay vì cố canh tác dẫn đến thua lỗ”, PGS.TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh.

Xem thêm
Quảng Ngãi: Đấu giá 58 mỏ khoáng sản, giải 'cơn khát' vật liệu xây dựng

Việc lựa chọn đơn vị đấu giá quyền khai thác 58 mỏ khoáng sản là bước quan trọng sớm đưa các mỏ vào khai thác, bảo đảm nguồn cung các dự án tại Quảng Ngãi.

TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước ngầm

TP.HCM xác định 80 khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất do nguy cơ xâm nhập mặn hoặc suy giảm mực nước, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi sang nguồn cấp tập trung.

Trao quyền cho cộng đồng giữ gìn nguồn lợi biển

Không chỉ khai thác, người dân ven biển Quảng Ngãi đang trực tiếp quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, góp phần gìn giữ hệ sinh thái và tạo sinh kế lâu dài.

Giữ nguồn nước trước El Niño: [Bài 3]: Thuận thiên mở lối thích ứng
Tài nguyên 3 ngày trước