Sau khi các nhà khoa học bước đầu xác định “rồng đá” Nậm Vời tại khu vực Nậm Vời - Pú Đao, xã Lê Lợi, tỉnh Lai Châu là một hiện tượng địa chất đặc biệt hiếm gặp, một số ý kiến cho rằng khu vực này không chỉ có giá trị nghiên cứu mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch địa chất.
Theo PGS.TS Trần Tân Văn, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, "rồng đá" Nậm Vời cần được nghiên cứu, quan trắc, cảnh báo nhằm giảm quy mô và thiệt hại do "tai biến" địa chất. Ảnh: Đức Việt.
Tuy nhiên, để một hiện tượng địa chất được đánh giá có giá trị nghiên cứu hay trở thành điểm du lịch địa chất cần đáp ứng nhiều tiêu chí. Đặc biệt, với một tai biến địa chất, việc khai thác giá trị cần được đặt trong mối quan hệ với nghiên cứu, quan trắc, cảnh báo và giảm nhẹ hậu quả.
Phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với PGS.TS Trần Tân Văn, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, về giá trị của “rồng đá” Nậm Vời cũng như hướng tiếp cận phù hợp đối với hiện tượng địa chất đặc biệt này.
Thưa ông, một hiện tượng như “rồng đá” Nậm Vời cần đáp ứng những tiêu chí nào để được đánh giá là điểm địa chất có giá trị ở tầm quốc gia và quốc tế?
Trong hệ thống phân loại Di sản Địa chất từ năm 2023 trở về trước của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) mà Việt Nam hiện đang áp dụng, chưa có loại hình di sản địa chất kiểu “tai biến địa chất” này.
Dòng lũ đá Nậm Vời nằm giữa địa hình núi cao, chia cắt mạnh ở khu vực Nậm Vời - Pú Đao, xã Lê Lợi, tỉnh Lai Châu. Công trình địa chất này dài khoảng 10 km, rộng 100-600 m, được người dân gọi là "rồng đá" do hình thái uốn lượn giữa núi rừng. Hệ thống đá, cuội sỏi và những rãnh nước trên bề mặt cho thấy dấu tích của quá trình địa chất đang tiếp diễn. Ảnh: VNE.
Tuy nhiên, từ năm 2024, theo đề nghị của Liên minh Khoa học Địa chất Quốc tế (IUGS), UNESCO đã chính thức áp dụng một hệ thống phân loại mới, trong đó có loại hình tai biến địa chất.
Trước đó, bản thân IUGS trong các chương trình công nhận quốc tế, ví dụ chương trình GEOSITES, cũng đã áp dụng hệ thống phân loại này. Một số quốc gia như Ý, Trung Quốc... cũng áp dụng và Việt Nam đang chuẩn bị áp dụng.
Được biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường trước đây đã ban hành một thông tư quy định về điều tra, đánh giá, phân loại, đề xuất xếp hạng di sản địa chất và hiện nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang chuẩn bị điều chỉnh thông tư này.
Theo đó, có bảng đánh giá định lượng gồm 6 tiêu chí, như giá trị, ý nghĩa khoa học; mức độ hiếm gặp, điển hình, tính đại diện; giá trị thẩm mỹ, cảnh quan; khả năng bảo tồn, các mối đe dọa; khả năng tiếp cận, trải nghiệm...
Trong đó, điểm mấu chốt để đánh giá giá trị, ý nghĩa khoa học cũng như tính đại diện, điển hình, quý hiếm chính là mức độ nghiên cứu, hay nói cách khác là những công bố khoa học trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó, một điểm địa chất mới có thể trở thành chuẩn mực tham chiếu ở trong nước và quốc tế.
Nếu hướng tới phát triển du lịch địa chất, ngoài giá trị khoa học, một điểm địa chất cần đáp ứng thêm những điều kiện gì, thưa ông?
Để trở thành một điểm di sản địa chất, du lịch địa chất thì ngoài giá trị khoa học, các tiêu chí về cảnh quan, khả năng tiếp cận... cũng quan trọng không kém.
Dòng lũ đá tại Nậm Vời. Ảnh: Viện Các khoa học Trái đất.
Vì vậy, đa số điểm di sản địa chất nổi tiếng trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay đều có giá trị thẩm mỹ cao, khiến du khách phải trầm trồ, cảm thán, ít nhất là về quy mô. Trong khi đó, đa số du khách hiện nay lại chưa mấy quan tâm đến giá trị khoa học. Bởi vậy, chỉ có giá trị khoa học thôi thì chưa đủ.
Có thể lấy điểm trượt lở nổi tiếng thế giới ở Vajont (Ý) làm ví dụ. Nơi đây trở thành một điểm di sản địa chất quốc tế bởi một số yếu tố. Thứ nhất, khi xảy ra vào năm 1963, hiện tượng này đã gây thiệt hại rất lớn về người và cơ sở vật chất. Thứ hai, nó có quy mô khổng lồ. Thứ ba, kể từ đó đã có hàng trăm công bố khoa học quốc tế liên quan.
Đối chiếu với những tiêu chí trên, “rồng đá” Nậm Vời hiện đã đáp ứng đến đâu yêu cầu của một điểm di sản địa chất tầm cỡ quốc tế, xin ông cho biết?
Tôi nghĩ đây là một đề xuất mới nhưng về cơ bản mới chỉ dừng ở mức độ ý tưởng. Còn rất nhiều tiêu chí cần đáp ứng để “rồng đá” Nậm Vời có thể trở thành một điểm di sản địa chất tầm cỡ quốc tế.
Chẳng hạn, hiện hầu như chưa có một công bố khoa học quốc tế nào về hiện tượng này. Trong khi đó, mức độ nghiên cứu và các công bố khoa học là cơ sở quan trọng để đánh giá giá trị, ý nghĩa khoa học cũng như tính đại diện, điển hình và quý hiếm của một điểm địa chất.
Bên cạnh đó, nếu đặt vấn đề phát triển du lịch địa chất thì khu vực cũng cần có một hệ thống cơ sở vật chất cơ bản để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của du khách khi họ quyết định đến đây, nhất là đối với loại hình du lịch mạo hiểm.
Như vậy, để “rồng đá” Nậm Vời có thể trở thành một điểm di sản địa chất tầm cỡ quốc tế thì hiện vẫn còn nhiều tiêu chí cần được đáp ứng.
Với thực tế đó, theo ông, đâu mới là vấn đề cần ưu tiên đối với “rồng đá” Nậm Vời hiện nay?
Cá nhân tôi không mặn mà với ý tưởng nghiên cứu, bảo tồn và đầu tư để từ đó đưa “rồng đá” Nậm Vời trở thành một điểm đến hấp dẫn trong nước và quốc tế. Theo tôi, đó không phải là mục tiêu chính.
Các đỉnh núi sạt lở tạo ra lũ đá ở Nậm Vời. Ảnh: Viện Các khoa học Trái đất.
Việc cần làm hơn là đầu tư nghiên cứu, quan trắc và cảnh báo để tai biến địa chất này giảm dần về quy mô cũng như mức độ thiệt hại đã và có thể tiếp tục gây ra đối với con người, cơ sở vật chất và môi trường.
Chẳng hạn, sau một vài thập kỷ đầu tư theo hướng đó, “con rồng đá” sống động kể trên dần trở thành một “con rồng chết”, không còn gây hại; sắc xanh của cây cối dần trở lại vùng đất chết và con người có thể tự hào về cách đã “chinh phục” hiện tượng này. Theo tôi, đó sẽ là một câu chuyện thú vị hơn rất nhiều.
Khi đó, tự khắc chúng ta sẽ có một điểm di sản địa chất có giá trị, ý nghĩa tầm cỡ quốc tế.
Ngoài Nậm Vời, Việt Nam còn những dạng tai biến địa chất quy mô lớn nào đáng chú ý và việc nghiên cứu các hiện tượng này nên hướng tới mục tiêu gì, thưa ông?
Cũng có những địa điểm như vậy. Ví dụ, các điểm trượt lở cổ có quy mô cực lớn, lên tới hàng triệu m3 ở khu vực hồ Ba Bể, Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên), hay những “vệt”, “lưỡi” cát bay, cát chảy ở Quảng Bình, trong đó một số khu vực sau này đã trở thành những làng mạc trù phú.
Tuy nhiên, tôi mới chủ yếu quan tâm đến việc điều tra, nghiên cứu các hiện tượng này để phục vụ phòng tránh và giảm nhẹ hậu quả.
Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư!




















