UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Quyết định số 4206/QĐ-UBND ngày 18/8/2026 phê duyệt kết quả thực hiện Đề án Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (cũ).
Kết quả kiểm kê đã định lượng tương đối đầy đủ hiện trạng tài nguyên nước trên địa bàn Bình Thuận (cũ). Ảnh: Kim Sơ.
Kết quả kiểm kê đã định lượng tương đối đầy đủ hiện trạng tài nguyên nước trên địa bàn với 68 sông, suối, kênh; 189 hồ, ao, đầm, phá; tổng lượng dòng chảy 1.696,96 triệu m³; tổng dung tích hồ chứa 1.273,88 triệu m³. Cùng với đó là 207 công trình khai thác, sử dụng nước mặt và 75 công trình xả nước thải vào nguồn nước.
Kết quả tổng kiểm kê góp phần khắc phục tình trạng thông tin phân tán giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Khi số lượng nguồn nước, công trình khai thác, lưu lượng sử dụng, chất lượng nước và nguồn xả thải được đặt trong một hệ thống thống nhất, việc quản lý sẽ có căn cứ đầy đủ, đồng bộ và sát thực tế hơn.
Kiểm kê 257 nguồn nước mặt, dòng chảy phân hóa rõ theo mùa
Theo kết quả kiểm kê, khu vực Bình Thuận (cũ) có tổng cộng 257 nguồn nước mặt, gồm 68 sông, suối, kênh và 189 hồ, ao, đầm, phá. Hệ thống này cung cấp nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, phát điện; đồng thời giữ vai trò điều hòa dòng chảy và duy trì các hệ sinh thái liên quan đến nước.
Tổng lượng dòng chảy được kiểm kê đạt 1.696,96 triệu m³. Tuy nhiên, lượng nước phân bố không đều giữa các tháng trong năm. Tháng 1 có 62,04 triệu m³, sau đó giảm xuống 37,98 triệu m³ vào tháng 2; 29,65 triệu m³ vào tháng 3 và chỉ còn 28,17 triệu m³ vào tháng 4, mức thấp nhất trong năm.
Từ tháng 5, lượng dòng chảy bắt đầu tăng, đạt 67,84 triệu m³; tháng 6 tăng lên 138,57 triệu m³ và tháng 7 đạt 205,11 triệu m³. Đà tăng tiếp tục trong các tháng 8 và 9, lần lượt đạt 257,48 triệu m³ và 291,36 triệu m³. Đến tháng 10, dòng chảy đạt mức cao nhất với 304,84 triệu m³, trước khi giảm còn 169,85 triệu m³ vào tháng 11 và 104,05 triệu m³ vào tháng 12.
Lượng dòng chảy trong tháng cao nhất gấp gần 11 lần tháng thấp nhất. Chênh lệch này cho thấy nguồn nước trên địa bàn phân hóa rõ theo mùa. Trong thời kỳ nhiều nước, lượng dòng chảy tập trung lớn đặt ra yêu cầu chủ động điều tiết, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du. Ngược lại, vào mùa khô, nguồn nước suy giảm mạnh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, sản xuất và các nhu cầu thiết yếu.
Để hỗ trợ điều hòa, phân phối nguồn nước, tổng dung tích các hồ chứa được kiểm kê đạt 1.273,88 triệu m³. Đây là nguồn lực quan trọng giúp tích trữ nước trong mùa mưa, bổ sung cho mùa khô, phục vụ cấp nước và sản xuất. Số liệu kiểm kê là cơ sở để rà soát khả năng trữ nước, chế độ vận hành và hiệu quả phối hợp giữa các hồ chứa theo từng thời kỳ.
Cùng với số lượng và dung tích, chất lượng nước mặt được đánh giá thông qua chỉ số chất lượng nước tổng hợp WQI. Trong giai đoạn 2021-2025, mỗi năm có từ 32 đến 33 điểm phân tích. Năm 2025, trong tổng số 33 điểm, có 15 điểm đạt chất lượng rất tốt, 13 điểm đạt mức tốt và 5 điểm ở mức trung bình.
Đáng chú ý, trong cả giai đoạn 2021-2025, không ghi nhận điểm phân tích nào thuộc nhóm chất lượng kém, ô nhiễm nặng hoặc ô nhiễm rất nặng. Riêng năm 2025, toàn bộ 33 điểm được phân loại từ trung bình trở lên, trong đó 28 điểm đạt mức tốt và rất tốt.
Dù vậy, cơ cấu chất lượng nước đã có sự thay đổi. Năm 2024 có 21 điểm đạt mức rất tốt và 12 điểm đạt mức tốt, không có điểm trung bình; đến năm 2025, số điểm rất tốt giảm còn 15, trong khi xuất hiện 5 điểm ở mức trung bình. Kết quả này đặt ra yêu cầu tiếp tục theo dõi, xác định nguyên nhân và giám sát chặt chẽ các nguồn có nguy cơ tác động đến chất lượng nước.
207 công trình khai thác, 75 công trình xả thải
Kết quả tổng kiểm kê ghi nhận 207 công trình khai thác, sử dụng nước mặt trên địa bàn Bình Thuận (cũ). Trong đó có 63 hồ chứa, 24 đập dâng, 7 trạm bơm, một cống, 26 nhà máy nước và 86 công trình thuộc các loại hình khác.
Kết quả kiểm kê cho thấy quản lý số lượng nước phải gắn chặt với bảo vệ chất lượng nước. Ảnh: Kim Sơ.
Các công trình này phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Lưu lượng nước sử dụng cho tưới được thống kê ở mức 214,31 m³/s; quy mô phát điện đạt 819.500 kW. Hoạt động kinh doanh dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp sử dụng khoảng 900 m³/ngày, trong khi lượng nước cấp cho sinh hoạt đạt 157.220 m³/ngày.
Những con số này cho thấy nước mặt đang giữ vai trò trực tiếp đối với đời sống dân cư và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Từ cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu nông nghiệp đến sản xuất công nghiệp và phát điện, khả năng duy trì ổn định nguồn nước có ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực trên địa bàn.
Đi cùng với khai thác, sử dụng là áp lực từ hoạt động xả nước thải. Kết quả kiểm kê xác định 75 công trình xả nước thải vào nguồn nước, gồm 20 công trình sản xuất công nghiệp, 3 công trình sinh hoạt và 52 công trình thuộc các nhóm hoạt động khác.
Trong số 52 công trình này, có 39 công trình thuộc lĩnh vực thủy sản, 9 công trình y tế, 2 công trình chăn nuôi và 2 công trình thương mại, dịch vụ. Việc phân loại cụ thể giúp nhận diện rõ những lĩnh vực có số lượng nguồn xả lớn, từ đó xác định trọng tâm kiểm tra và giám sát.
Tổng lượng nước thải được kiểm kê đạt 39.334,94 m³/ngày. Trong đó, sản xuất công nghiệp phát sinh 7.693 m³/ngày, nước thải sinh hoạt khoảng 5.104 m³/ngày. Các nhóm hoạt động khác phát sinh 26.537,94 m³/ngày, chiếm phần lớn tổng lượng nước thải.
Riêng hoạt động thủy sản phát sinh 24.637,04 m³/ngày, tương đương gần 63% tổng lượng nước thải được kiểm kê. Lượng nước thải từ lĩnh vực y tế là 1.284 m³/ngày; thương mại, dịch vụ 419,3 m³/ngày và chăn nuôi 197,6 m³/ngày.
Việc lượng hóa số công trình và lưu lượng xả thải giúp cơ quan quản lý nhận diện rõ hơn sức ép đối với từng nguồn nước. Đây là căn cứ để rà soát việc chấp hành quy định về bảo vệ tài nguyên nước, tăng cường quan trắc, kiểm tra chất lượng nước thải và kịp thời xử lý những nguy cơ gây ô nhiễm.
Kết quả kiểm kê cũng cho thấy quản lý số lượng nước phải gắn chặt với bảo vệ chất lượng nước. Nếu chỉ tập trung phân bổ, khai thác mà không kiểm soát nước thải, nguồn nước có thể suy giảm chất lượng và mất dần khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng. Ngược lại, khi thông tin về nguồn nước, công trình khai thác và nguồn xả thải được kết nối, cơ quan quản lý có thể chủ động hơn trong cấp phép, thanh tra, kiểm tra và phòng ngừa ô nhiễm.
Theo Quyết định số 4206/QĐ-UBND, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao tổ chức công bố kết quả tổng kiểm kê; báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường; cập nhật dữ liệu vào phần mềm quản lý, khai thác dữ liệu kiểm kê tài nguyên nước do Bộ cung cấp. Sở cũng có trách nhiệm chủ trì rà soát, báo cáo UBND tỉnh điều chỉnh hoặc cập nhật kết quả định kỳ khi có thay đổi.
Các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường trên địa bàn Bình Thuận (cũ) có trách nhiệm phối hợp quản lý chặt chẽ hiện trạng nguồn nước; kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng nước; giám sát việc xả nước thải vào nguồn nước theo quy định.



















