Đó là phát biểu của PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ tại Hội nghị Khoa học công nghệ thuỷ sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tại sáng 28/4 TP.HCM.
90% diện tích nuôi trồng thủy sản có ứng dụng khoa học công nghệ
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh, giai đoạn 2021 - 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của hoạt động nghiên cứu Khoa học công nghệ trong lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư. Với tổng số 113 nhiệm vụ KHCN được triển khai, các chương trình nghiên cứu đã được thực hiện đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ công nghệ sinh học, chọn tạo giống, nuôi trồng, khai thác đến bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Hệ thống các đề tài, dự án được phân bổ đa dạng, bao gồm các đề tài cấp bộ, đề tài trọng điểm, nhiệm vụ tiềm năng, dự án sản xuất thử nghiệm và các nhiệm vụ bảo tồn, phát triển nguồn gen. Trong đó, có 113 nhiệm vụ KHCN do Bộ quản lý. Đến nay, đã nghiệm thu 60 nhiệm vụ, trong đó có 2 đề tài trọng điểm cấp Bộ, 19 đề tài cấp Bộ; 20 đề tài tiềm năng, 15 dự án sản xuất thử nghiệm và 4 nhiệm vụ nguồn gen.
Bên cạnh đó, các tiến bộ kỹ thuật và quy trình công nghệ được nghiên cứu, hoàn thiện và chuyển giao rộng rãi đã giúp nâng cao hiệu quả nuôi trồng và khai thác thủy sản. Nhiều công nghệ nuôi tiên tiến như nuôi thâm canh, siêu thâm canh, nuôi tuần hoàn, sử dụng chế phẩm sinh học và kiểm soát môi trường đã được áp dụng trên diện rộng, góp phần giảm chi phí, tăng năng suất và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường. Trong khai thác hải sản, việc ứng dụng công nghệ hiện đại không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần đảm bảo an toàn cho ngư dân, giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên và thúc đẩy khai thác có trách nhiệm.
PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại Hội nghị Khoa học công nghệ thuỷ sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026. Ảnh: Hồng Thủy.
Các kết quả nghiên cứu KHCN đã được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn sản xuất, với quy mô triển khai chiếm khoảng 90% diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản.
Những ứng dụng KHCN đã góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định của ngành thủy sản ở mức 4 - 5%/năm, đồng thời nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và bảo đảm an sinh xã hội. Các mô hình nuôi trồng hiệu quả, các giải pháp công nghệ trong bảo quản, chế biến và khai thác đã tạo ra những chuyển biến tích cực, hướng tới phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đến nay, các cơ sở nghiên cứu đã chọn tạo được 12 giống mới, 27 tiến bộ kỹ thuật được công nhận và chuyển giao thành công vào sản xuất. Trong đó tập trung chọn được các giống tôm, cá tăng trưởng nhanh, sạch bệnh, kháng bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu, chọn lọc và phát triển giống tôm càng xanh tăng trưởng với hiệu quả chọn lọc trên 20% tới nhiều cơ sở sản xuất tại ĐBSCL. Các giống tôm, cá trên đã được sản xuất và cung cấp nhiều triệu con giống hậu bị cho các cơ sở sản xuất tại vùng sản xuất trọng điểm như ĐBSCL, Nam Trung Bộ.
Các cơ sở nghiên cứu đã xây dựng và hoàn thiện được các quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo nhiều đối tượng mới có giá trị kinh tế, thuộc nhóm các đối tượng chủ lực, như: giáp xác (tôm tít), cá biển (cá rô biển, song vua, nhụ 4 râu...), nhuyễn thể (ngao Bến Tre), cá nước lạnh (cá tầm siberi, cá tầm nga, cá trắng)... và đã chuyển giao cho nhiều cơ sở sản xuất, góp phần trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế (cá nước lạnh), thúc đẩy và ổn định sản xuất (ngao, cá biển) ở nhiều địa phương, vùng miền.
Gian hàng tôm hùm tại triển lãm. Ảnh: Hồng Thủy.
Về khai thác thủy hải sản, 5 tiến bộ kỹ thuật được công nhận, nhiều quy trình công nghệ tiên tiến đã được nghiên cứu, chuyển giao vào sản xuất, mang lại hiệu quả cao, giúp ngư dân bám biển và phát triển kinh tế biển, khai thác thủy sản có trách nhiệm. Bên cạnh phát triển công nghệ khai thác hải sản, đặc biệt là khai thác xa bờ, ngành thủy sản còn đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới trong bảo quản, chế
Mục tiêu phát triển ngành thủy sản, kiểm ngư
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh, để phát triển bền vững ngành thuỷ sản, kiểm ngư, phát triển công nghệ là chìa khoá chủ chốt. Trong đó, các nhiệm vụ cần được ưu tiên như chọn tạo giống bố mẹ, kỹ thuật sản xuất giống đối với một số giống thuỷ sản chủ lực; nghiên cứu và phát triển công nghệ nuôi tiên tiến, ưu tiên công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản; giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh trong nuôi thủy sản, đảm bảo an toàn thực phẩm.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến thăm gian hàng cá giống. Ảnh: Hồng Thuỷ.
Hướng nghiên cứu quan trọng khác là nghiên cứu dịch tễ học một số bệnh; xây dựng quy trình phòng trị bệnh trên một số đối tượng thủy sản đảm bảo an toàn thực phẩm; nghiên cứu chế tạo vắc xin, thuốc thú y thủy sản; sản xuất chế phẩm sinh học thay thế kháng sinh; nghiên cứu sản xuất thức ăn thủy sản, thức ăn bổ sung trong nuôi trồng thủy sản; chế tạo kit phát hiện tồn dư kháng sinh, hóa chất độc hại, vi sinh vật gây ô nhiễm thực phẩm. Đồng thời nghiên cứu các giải pháp công nghệ nuôi ít sử dụng nước, xử lý môi trường trong nuôi thủy sản. Cần đầu tư, nghiên cứu công nghệ, thiết bị trong khai thác, thu hoạch, bảo quản, chế biến sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm tổn thất, nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản sau khi đánh bắt, thu hoạch.
Theo ông Ninh, cần đẩy mạnh xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học trong thủy sản, ưu tiên nhóm sản phẩm giống, quy trình công nghệ tế bào, chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất hữu cơ, chế phẩm chẩn đoán, vắc xin phòng trị bệnh; nâng cao năng lực cơ sở vật chất, trang thiết bị để tiếp nhận, ứng dụng chuyển giao công nghệ quy mô công nghiệp, tiến tới hình thành ngành công nghiệp sinh học trong thủy sản.
Trong bối cảnh chuyển đổi số nhanh chóng, việc nghiên cứu ứng dụng, xây dựng các công cụ phục vụ chuyển đổi số (số hóa, tạo lập dữ liệu, chuẩn hóa tạo lập cơ sở dữ liệu lớn; kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành, lĩnh vực phục vụ chỉ đạo, điều hành của Bộ và các đơn vị, sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp là rất cần thiết.
Nghiên cứu ứng dụng, phát triển các thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 trong các lĩnh vực, để tối ưu hóa quá trình sản xuất, quản trị, liên kết chuỗi giá trị, hướng đến các mô hình chính xác, thông minh. Trên thực tế, cần thí điểm và nhân rộng các mô hình thông minh, mô hình về kỹ thuật mới, công nghệ mới trong sản xuất, chế biến, trong quản lý truy xuất nguồn gốc, liên kết chuỗi giá trị, mô hình kinh tế tuần hoàn sử dụng hiệu quả phụ phẩm thủy sản.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến tham quan gian hàng nước mắm tại triển lãm. Ảnh: Hồng Thủy.
"Một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần được ưu tiên phát triển là phát triển công nghiệp sinh học thế hệ mới; tiếp cận và làm chủ công nghệ tạo các chế phẩm sinh học (chế phẩm bảo quản, xử lý môi trường, vắc xin thế hệ mới, kít thử...) trong nuôi trồng thủy sản, nhằm thay thế dần các sản phẩm nguồn gốc hóa học", PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ.
















