Tại Hội nghị “Phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng kinh tế xanh” diễn ra ở Lai Châu ngày 24/4, ông Phạm Văn Duy, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhiều lần nhắc đến cụm từ “chuyển từ tiềm năng sang thực chất”.
Cây sâm Lai Châu 5 năm tuổi được trồng dưới tán rừng. Ảnh: Kiên Trung.
Theo ông, Lai Châu sở hữu nhiều lợi thế mà không phải địa phương nào cũng có. Trên những cung đường dẫn vào Tam Đường, Tân Uyên hay Sìn Hồ, dễ dàng bắt gặp các vùng chè trải dài. Xen giữa là những diện tích quế, mắc ca, cây ăn quả và dược liệu đang mở rộng từng năm. Không khí trong lành, đất đai còn ít chịu tác động của công nghiệp hóa được xem là “tài sản” quý nhất của địa phương.
Nhưng để hình thành một nền nông nghiệp hữu cơ đúng nghĩa vẫn còn nhiều việc phải làm. Theo lãnh đạo Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, Lai Châu hiện có hơn 500.000 ha rừng và trên 16.000 ha mặt nước hồ thủy điện, tạo nên hệ sinh thái thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Trong bối cảnh nhiều vùng sản xuất ở đồng bằng đối mặt áp lực ô nhiễm môi trường và dư lượng hóa chất, lợi thế “sạch từ tự nhiên” của Lai Châu càng trở nên giá trị.
Ông Duy nhìn nhận, nhu cầu tiêu dùng nông sản hữu cơ trên thế giới đang tăng nhanh, đặc biệt ở các thị trường có yêu cầu khắt khe như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản. Điều này mở ra cơ hội để các sản phẩm đặc sản vùng cao tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu nếu được tổ chức sản xuất bài bản.
Trong số những sản phẩm được nhắc đến, chè và dược liệu là hai lĩnh vực được đánh giá có nhiều tiềm năng nhất để phát triển hữu cơ. Lai Châu hiện có khoảng 11.000 ha chè, hơn 12.500 ha quế, trên 10.700 ha dược liệu dưới tán rừng và hàng trăm hecta sâm Lai Châu. Những vùng nguyên liệu này phân bố ở độ cao lớn, khí hậu mát mẻ quanh năm, phù hợp với xu hướng canh tác tự nhiên, hạn chế hóa chất.
Ở nhiều vùng cao, người dân vốn quen với phương thức sản xuất gần với tự nhiên. Những nương chè ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, những khu trồng dược liệu nằm dưới tán rừng già hay mô hình lúa đặc sản canh tác theo tập quán truyền thống được xem là nền tảng thuận lợi để chuyển đổi sang hữu cơ.
Ông Phạm Văn Duy, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường. Ảnh: Tùng Đinh.
Tuy nhiên, ông Duy thừa nhận, khó khăn lớn nhất hiện nay là quy mô sản xuất hữu cơ còn nhỏ. Toàn tỉnh mới có hơn 42 ha được chứng nhận hữu cơ, chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng diện tích canh tác. “Tiềm năng rất lớn nhưng chưa hình thành được xu hướng sản xuất rõ rệt”, ông nói.
Một trong những nguyên nhân là sản xuất còn phân tán, thiếu liên kết. Nhiều hộ dân canh tác manh mún, quy mô nhỏ nên khó đáp ứng đồng bộ các tiêu chuẩn hữu cơ. Trong khi đó, tỷ lệ diện tích có liên kết sản xuất và tiêu thụ còn thấp, khiến doanh nghiệp khó xây dựng vùng nguyên liệu ổn định.
Bài toán chứng nhận cũng là rào cản lớn. Chi phí để đạt các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế khá cao, trong khi số lượng tổ chức chứng nhận tại địa phương còn hạn chế. Với nhiều nông hộ vùng cao, việc tiếp cận quy trình, hồ sơ hay kỹ thuật sản xuất hữu cơ vẫn còn xa lạ.
Khâu chế biến và thị trường cũng đang là “nút thắt” khiến nông nghiệp hữu cơ Lai Châu chưa tạo được đột phá. Dù có nhiều vùng nguyên liệu lớn, phần lớn nông sản của địa phương hiện vẫn bán dưới dạng thô hoặc sơ chế. Những nhà máy chế biến sâu còn ít, liên kết với vùng nguyên liệu chưa chặt chẽ nên giá trị gia tăng chưa cao.
Điều này khiến không ít nông dân dù muốn chuyển đổi sang hữu cơ vẫn còn tâm lý e ngại. Bởi sản xuất hữu cơ thường cho năng suất thấp hơn trong giai đoạn đầu, chi phí đầu tư cao hơn nhưng đầu ra chưa thực sự ổn định.
Theo Phó Cục trưởng Duy, để phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững, điều quan trọng nhất là phải tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị. Doanh nghiệp cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường, hợp tác xã là đầu mối tổ chức vùng nguyên liệu, còn nông dân là chủ thể trực tiếp sản xuất.
Ông cũng cho rằng Lai Châu cần ưu tiên quy hoạch các vùng sản xuất hữu cơ tập trung đối với những sản phẩm có lợi thế như chè, dược liệu, lúa đặc sản; đồng thời gắn với mã số vùng trồng và hệ thống truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu thị trường.
Trong bức tranh phát triển nông nghiệp xanh của Lai Châu, dược liệu dưới tán rừng được xem là hướng đi nhiều triển vọng. Khác với mô hình sản xuất đại trà, cây dược liệu vừa giúp nâng giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất, vừa góp phần giữ rừng, tạo sinh kế cho đồng bào vùng cao. Đây cũng là mô hình phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải mà địa phương đang theo đuổi.
"Không nên chạy theo mở rộng diện tích bằng mọi giá, mà cần tập trung vào chất lượng và giá trị", ông Duy nhận xét và nêu rõ, khi sản phẩm đủ tiêu chuẩn, có truy xuất nguồn gốc và gắn với chế biến sâu, nông sản hữu cơ của địa phương mới có thể chinh phục các thị trường cao cấp.




![Nhìn thẳng vào ‘sức khoẻ’ nhà khoa học: [Bài 6] Cần một 'liều thuốc' đủ mạnh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/benlc/2026/07/12/1618-chatgpt-image-12_15_17-10-thg-7-2026-122814_896.jpeg)








![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 5] Nặng gánh mưu sinh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/480w/files/hoaipn88/2026/07/10/2031-dsc_0574jpg-nongnghiep-082022.jpg)









![Nhìn thẳng vào ‘sức khỏe’ nhà khoa học: [Bài 5] Nặng gánh mưu sinh](https://t.ex-cdn.com/nongnghiepmoitruong.vn/192w/files/hoaipn88/2026/07/10/2031-dsc_0574jpg-nongnghiep-082022.jpg)

