Không còn ràng buộc diện tích, chấp nhận vùng trồng xen
Thông tin tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 4/8, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, sau khi Nghị định số 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được ban hành và triển khai, nhiều địa phương đã phát sinh những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt đối với các vùng trồng có cây trồng xen hoặc diện tích nhỏ chưa đáp ứng điều kiện theo quy định trước đây.
Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành khẩn cấp Nghị quyết số 36 nhằm giải quyết ngay những vướng mắc trước mắt, đồng thời tạo tiền đề để sửa đổi toàn diện Nghị định 38 trong tháng 9 tới.
“Qua các ý kiến, có thể thấy nhiều nội dung mới của Nghị quyết 36 đã nhận được sự đồng tình, đánh giá cao từ các địa phương vì kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề mà người dân và doanh nghiệp tiếp tục quan tâm, và Bộ sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong quá trình sửa đổi Nghị định 38 sắp tới”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 4/8. Ảnh: Bảo Thắng.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, điểm thay đổi lớn nhất của Nghị quyết 36 là chuyển sang tư duy quản lý mới đối với mã số vùng trồng. Theo đó, việc cấp mã không còn quy định diện tích tối thiểu như trước. Tuy nhiên, Bộ vẫn khuyến khích người dân liên kết thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã để hình thành các vùng sản xuất đủ lớn, thuận lợi cho xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, mã số vùng trồng sẽ được cấp theo từng loại cây trồng trên cùng một diện tích, qua đó tháo gỡ vướng mắc lâu nay đối với các mô hình trồng xen.
“Nếu trên cùng một diện tích vừa trồng sầu riêng, vừa trồng cà phê, mỗi loại cây đều có thể được cấp mã số riêng để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Đây là thay đổi rất căn bản, giải quyết một trong những vướng mắc lớn nhất thời gian qua”, Thứ trưởng diễn giải.
Bên cạnh đó, toàn bộ quy trình cấp mã số vùng trồng được thực hiện trực tuyến, gắn với mã định danh của từng thửa đất. Đối với những khu vực chưa hoàn thiện dữ liệu đất đai hoặc chưa được cập nhật lên Cơ sở dữ liệu quốc gia, UBND cấp xã sẽ xác nhận hiện trạng cây trồng để làm căn cứ cấp mã.
Theo Thứ trưởng, toàn bộ hồ sơ từ khi người dân nộp đến khi gửi sang nước nhập khẩu đều được công khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, giúp người dân, doanh nghiệp có thể theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ của mình.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, điểm thay đổi lớn nhất của Nghị quyết 36 là chuyển sang tư duy quản lý mới đối với mã số vùng trồng. Ảnh: Bảo Thắng.
Một thay đổi quan trọng khác của Nghị quyết 36 là cải cách mạnh thủ tục hành chính thông qua việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, nguyên tắc chung là chỉ thực hiện tiền kiểm khi nước nhập khẩu yêu cầu, còn lại áp dụng hậu kiểm theo đúng thời hạn đã được quy định.
Cụ thể, đối với hồ sơ thuộc diện tiền kiểm, thời gian xử lý tối đa là 10 ngày. Đối với hậu kiểm, trong vòng 3 tháng kể từ khi cấp mã, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra và trả lời bằng văn bản, nêu rõ kết quả chấp thuận hay không chấp thuận, đồng thời giải thích đầy đủ lý do nếu từ chối. Tuy thủ tục được đơn giản hóa nhưng trách nhiệm của các chủ thể lại được nâng lên rõ rệt.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, Nghị quyết số 36 không chỉ đơn giản hóa thủ tục hành chính mà còn nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Theo đó, người kê khai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ thông tin trong hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng. Đối với cơ quan thực hiện tiền kiểm, hậu kiểm, toàn bộ nội dung kiểm tra, kết quả xử lý và thời hạn giải quyết cũng phải được công khai, minh bạch.
Thống nhất nhận thức, không để một mắt xích làm ảnh hưởng cả chuỗi giá trị
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, để Nghị quyết 36 đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất là thống nhất nhận thức từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp và người sản xuất.
“Nếu không thống nhất nhận thức thì sẽ không thể thống nhất hành động. Đây là một chuỗi sản xuất, chỉ cần một mắt xích làm sai thì cả chuỗi đều bị ảnh hưởng. Vì vậy, từ cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, doanh nghiệp đến từng hộ sản xuất phải cùng hiểu đúng, làm đúng và thực hiện thống nhất các quy định mới”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Để Nghị quyết 36 đi vào cuộc sống, cần thống nhất nhận thức từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp và người sản xuất. Ảnh: Phương Chi.
Theo đó, Thứ trưởng đề nghị UBND các tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, tổ chức tập huấn, đồng thời huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia triển khai cấp mã số vùng trồng. Các địa phương cũng cần bố trí đầy đủ nguồn lực về nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất, nhất là tăng cường cán bộ chuyên môn, lực lượng khuyến nông và các đơn vị trực thuộc hỗ trợ cấp xã trong giai đoạn đầu triển khai. Bên cạnh đó, Bộ khuyến khích các địa phương tận dụng cơ hội này để phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác nhằm hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn.
Ngay sau Hội nghị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ thành lập các tổ công tác trực tiếp hỗ trợ những địa phương trọng điểm đang bước vào mùa thu hoạch và xuất khẩu. Trong đó, khu vực Tây Nguyên sẽ triển khai một chiến dịch cao điểm 30 ngày đêm nhằm giải quyết cơ bản việc cấp mã số vùng trồng cho các cây trồng chủ lực. Bộ sẽ phối hợp với địa phương hướng dẫn thống nhất quy trình thực hiện, tập huấn cán bộ, hỗ trợ xử lý các vướng mắc phát sinh ngay từ cơ sở để bảo đảm việc triển khai đồng bộ trên toàn quốc.
Liên quan đến năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, đến nay, Việt Nam có tổng cộng 50 phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc công nhận, tăng mạnh so với 30 phòng cùng kỳ năm ngoái. Số cơ sở đóng gói được công nhận cũng tăng từ khoảng 80 lên 150 cơ sở.
Khu vực Tây Nguyên sẽ triển khai một chiến dịch cao điểm 30 ngày đêm nhằm giải quyết cơ bản việc cấp mã số vùng trồng cho các cây trồng chủ lực. Ảnh: Phương Chi.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năng lực hiện nay hoàn toàn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sầu riêng, không còn nguy cơ ùn tắc do thiếu phòng kiểm nghiệm hay cơ sở đóng gói. Tuy nhiên, do sản lượng sầu riêng thường thu hoạch tập trung theo từng vùng và từng thời điểm, Bộ sẽ điều động các phòng kiểm nghiệm lưu động của các đơn vị trực thuộc tới khu vực Tây Nguyên trong mùa cao điểm, đồng thời yêu cầu các đơn vị làm việc 24/24 giờ để hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, bảo đảm không để việc kiểm nghiệm trở thành điểm nghẽn của hoạt động xuất khẩu.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết 36 không chỉ là tháo gỡ khó khăn trước mắt cho xuất khẩu sầu riêng hay một số mặt hàng cụ thể mà là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch cho toàn bộ nông sản Việt Nam.
“Việc triển khai mã số vùng trồng theo quy định mới không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường xuất khẩu mà còn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp minh bạch, có trách nhiệm và tạo ra nông sản sạch. Đây không chỉ là yêu cầu của xuất khẩu mà còn là cam kết đối với người tiêu dùng trong nước”, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, một mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu có thể bao gồm nhiều hộ dân và nhiều thửa đất. Tuy nhiên, mỗi thửa đất vẫn được gắn một mã định danh riêng để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Nhờ đó, nếu phát hiện vi phạm về chất lượng hoặc an toàn thực phẩm, cơ quan quản lý chỉ cần khoanh vùng, xử lý đúng thửa đất hoặc hộ sản xuất có vấn đề thay vì phải tạm dừng toàn bộ mã số vùng trồng như trước đây.
Thứ trưởng cũng lưu ý, mã số vùng trồng chỉ là một trong ba điều kiện tối thiểu để nông sản đủ điều kiện xuất khẩu. Bên cạnh mã số vùng trồng, người sản xuất phải tuân thủ quy trình canh tác thống nhất và ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất để phục vụ công tác kiểm tra, truy xuất nguồn gốc khi cần thiết.
“Ba yếu tố này phải đi cùng nhau, thiếu một cũng không thể đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu”, Thứ trưởng nhấn mạnh.














