| Hotline: 0983.970.780

Bổ sung cơ chế để ‘khơi thông’ kinh tế đại dương

Thứ Sáu 05/06/2026 , 16:40 (GMT+7)

Việc sửa đổi Luật được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, thúc đẩy kinh tế biển xanh và khơi thông nguồn lực đầu tư trên biển.

Cần cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy kinh tế ngành biển mới

Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ nhằm khắc phục những bất cập sau gần một thập kỷ thi hành, mà còn được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, thúc đẩy kinh tế biển xanh và khơi thông nguồn lực đầu tư trên biển. Đây là nội dung được ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trình bày tại Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” chiều 5/6.

Theo đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, biển ngày càng trở thành không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, song pháp luật hiện hành chưa tạo được cơ sở rõ ràng để phân bổ, điều phối hay xử lý chồng lấn giữa các lĩnh vực sử dụng biển.

Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Tùng Đinh.

Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: Tùng Đinh.

Bên cạnh đó, chế độ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển cũng chưa hoàn thiện. Pháp luật hiện hành chưa hình thành đầy đủ chế định về quyền sử dụng khu vực biển, chưa tạo được cơ chế vừa quản lý chặt chẽ, vừa bảo đảm tính ổn định, minh bạch để thu hút đầu tư dài hạn trên biển.

Trong khi đó, áp lực môi trường biển ngày càng gia tăng với hàng loạt vấn đề mới như rác thải nhựa đại dương, ô nhiễm xuyên biên giới, ô nhiễm từ đất liền ra biển hay yêu cầu phục hồi hệ sinh thái biển sau sự cố môi trường. Theo ông Toản, nhiều nội dung trong số này hiện chưa có quy định pháp lý đầy đủ.

Một điểm đáng chú ý khác là pháp luật hiện hành vẫn thiếu cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển hay các mô hình hạ tầng dùng chung trên biển. Nhiều quy định cũng đang giao thoa, chồng chéo với Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Dầu khí, Luật Điện lực hay Luật Bảo vệ môi trường.

Đề xuất 4 nhóm chính sách lớn chuyển đổi tư duy quản lý biển

Theo ông Toản, việc sửa đổi luật lần này còn nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, cùng các nghị quyết mới về đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế biển.

Theo ông Toản, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển. Ảnh: Tùng Đinh.

Theo ông Toản, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển. Ảnh: Tùng Đinh.

“Việc sửa đổi luật không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành, mà thực chất là hoàn thiện thể chế nền tảng cho quản trị biển hiện đại”, ông Toản nhấn mạnh.

Theo định hướng xây dựng dự thảo luật mới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 4 nhóm chính sách lớn. Trọng tâm đầu tiên là hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển theo hướng tổng hợp, thống nhất và minh bạch, gắn với Quy hoạch không gian biển quốc gia.

Điểm mới quan trọng là dự thảo luật bổ sung khái niệm “không gian biển” vào phạm vi điều chỉnh. Nếu trước đây biển chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tài nguyên và môi trường, thì nay biển được tiếp cận như một không gian phát triển tổng hợp, nơi cùng lúc tồn tại hoạt động kinh tế, quốc phòng, an ninh, bảo tồn sinh thái và lợi ích chiến lược quốc gia.

Dự thảo luật cũng bổ sung cơ chế xử lý xung đột trong sử dụng không gian biển. Theo cơ quan soạn thảo, cùng một khu vực biển hiện có thể phát sinh nhiều nhu cầu khác nhau như điện gió ngoài khơi, giao thông hàng hải, nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn hay quốc phòng. Vì vậy, cần có cơ chế điều phối và phân bổ minh bạch nhằm hạn chế chồng lấn lợi ích.

Một thay đổi lớn khác là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính.

Theo ông Toản, việc bổ sung cơ chế đấu giá sẽ giúp hạn chế tình trạng “xin - cho”, tăng tính minh bạch và lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực thực sự. Trong khi đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển sẽ là công cụ pháp lý để xác lập rõ quyền và nghĩa vụ của chủ thể khai thác biển.

Dự thảo cũng nghiên cứu mở rộng một số quyền của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển như chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn hay thế chấp quyền sử dụng khu vực biển trong các điều kiện chặt chẽ.

Một trụ cột khác của dự thảo luật là tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và chuyển đổi số trong quản trị biển. Ảnh: Daibieunhandan.

Một trụ cột khác của dự thảo luật là tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và chuyển đổi số trong quản trị biển. Ảnh: Daibieunhandan.

Đây được xem là bước chuyển lớn trong tư duy quản lý biển, từ cơ chế quản lý hành chính đơn thuần sang cơ chế vừa kiểm soát chặt chẽ vừa tạo động lực phát triển.

Một nội dung khác được nhấn mạnh là xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù cho các ngành kinh tế biển mới. Theo đó, dự thảo luật hướng tới tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung, đảo nhân tạo, công nghệ sinh học biển hay các mô hình kinh tế carbon thấp.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề xuất cải cách mạnh thủ tục hành chính đối với dự án đầu tư trên biển. Thay vì phải thực hiện nhiều quy trình riêng rẽ liên quan đến các bộ, ngành khác nhau, dự thảo luật định hướng xây dựng cơ chế phối hợp liên thông và đồng bộ hơn nhằm giảm thời gian, chi phí cho nhà đầu tư.

Song song với thúc đẩy kinh tế biển, dự thảo luật đặt trọng tâm vào kiểm soát ô nhiễm và phục hồi môi trường biển theo hướng phòng ngừa rủi ro.

Theo ông Toản, điểm mới của dự thảo là chuyển từ tư duy xử lý ô nhiễm sau sự cố sang phòng ngừa từ sớm, từ nguồn. Các quy định mới sẽ tập trung kiểm soát rác thải biển, rác thải nhựa đại dương, ô nhiễm từ đất liền ra biển và ô nhiễm xuyên biên giới.

Dự thảo cũng tiếp tục nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế liên quan đến trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, kiểm soát nước dằn tàu hay bảo tồn đa dạng sinh học biển ngoài vùng tài phán quốc gia.

Một trụ cột khác của dự thảo luật là tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và chuyển đổi số trong quản trị biển. Theo cơ quan soạn thảo, quản lý biển trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào hồ sơ hành chính, mà cần chuyển sang quản lý dựa trên dữ liệu, giám sát số và công nghệ thời gian thực.

Dự thảo luật vì vậy bổ sung cơ sở pháp lý cho ứng dụng trí tuệ nhân tạo, viễn thám, hệ thống thông tin địa lý, quan trắc thông minh và nền tảng dữ liệu biển đồng bộ. Đây sẽ là nền tảng phục vụ cấp quyền sử dụng biển, kiểm soát môi trường, đánh giá sức chịu tải hệ sinh thái và hỗ trợ quyết định đầu tư.

Theo ông Nguyễn Quốc Toản, toàn bộ những sửa đổi này thể hiện một sự chuyển đổi lớn trong tư duy quản trị biển của Việt Nam: từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp; từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý bằng quy hoạch và dữ liệu; từ kiểm soát đơn thuần sang kiến tạo phát triển.

Hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là bước đi quan trọng để xây nền quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực phát triển và hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam biết trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi dự kiến được trình Quốc hội vào tháng 10/2026.

Xem thêm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Thực hiện Nghị quyết 57 phải tạo được sản phẩm và giá trị cụ thể

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu thực hiện Nghị quyết 57 phải tạo ra sản phẩm, giá trị cụ thể; đưa khoa học công nghệ trở thành động lực tăng trưởng.

Bình luận mới nhất

Bổ sung cơ chế để ‘khơi thông’ kinh tế đại dương